Báo cáo Số 07/TK-NN, Báo cáo chính thức DT- NS - SL cây hàng năm vụ mùa và cả năm 2009


TỔNG CỤC THỐNG KÊ

CỤC THỐNG KÊ VĨNH PHÚC

 

Số: 07/TK-NN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------***--------

Vĩnh yên, ngày 5 tháng 1 năm 2010

BÁO CÁO CHÍNH THỨC

DIỆN TÍCH - NĂNG SUẤT - SẢN LƯỢNG

CÂY HÀNG NĂM VỤ MÙA VÀ CẢ NĂM 2009

Thực hiện kế hoạch công tác thống kê nông, lâm nghiệp và thủy sản của Tổng cục Thống kê giao năm 2009 và công văn số 3338/UBND-KT2 ngày 17 tháng 8 năm 2009 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc “V/v điều tra NS-SL cây trồng vụ mùa và cả năm 2009”. Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc đã xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện cuộc điều tra năng suất, sản lượng cây trồng vụ mùa và cả năm 2009 đến tất cả các huyện, thị, thành phố trong tỉnh. Từ kết quả điều tra thực thu tại hộ của các huyện, thị, thành phố, Cục Thống kê có những đánh giá, nhận xét về tình hình chỉ đạo triển khai điều tra và kết quả điều tra vụ mùa và cả năm 2009 như sau:          

I. Tình hình chỉ đạo triển khai.

Ngày 19 tháng 8 năm 2009 Cục Thống kê Vĩnh Phúc đã có công văn số 224/TK-NN “V/v điều tra DT-NS-SL cây hàng năm vụ mùa và cả năm 2009” cho tất cả các huyện, thành, thị. Căn cứ vào phương án điều tra của Tổng cục Thống kê đã ban hành và hướng dẫn của Cục Thống kê, phòng Thống kê các huyện, thành, thị đã trực tiếp triển khai kế hoạch điều tra đến các xã, phường, thị trấn.

Việc triển khai và thực hiện ở các cấp đều đảm bảo đúng phương án đã quy định. Kết thúc thu hoạch vụ mùa, các địa phương trong tỉnh đã tiến hành điều tra thực thu tại hộ, trong đó cây lúa điều tra 1.400 hộ, cây rau màu chủ yếu 1.350 hộ. Trong quá trình điều tra Cục Thống kê Vĩnh Phúc chỉ đạo các phòng thống kê huyện, thành, thị thực hiện đúng phương án, trực tiếp giám sát, kiểm tra việc thực hiện phương án điều tra đến từng đơn vị cơ sở. Điều tra viên đến điều tra thực thu tại hộ, phỏng vấn trực tiếp và ghi kết quả sản xuất vào phiếu điều tra lúa và cây rau màu, kết quả điều tra phản ánh đúng thực tế mùa vụ.

II. Kết quả sản xuất.

1. Vụ mùa năm 2009

1.1. Diện tích gieo trồng:

Vụ mùa năm 2009 toàn tỉnh đã gieo trồng được 33.988,8 ha cây hàng năm, tăng 3,21% so với cùng kỳ năm trước (+1.056,2 ha). Cụ thể: Diện tích nhóm cây lương thực có hạt 30.035,3 ha, tăng 4,0% (+1.154,9 ha), nhóm cây chất bột 244,3 ha tăng 32,27% (+59,6 ha); Nhóm cây có hạt chứa dầu 1.843,9 ha, tăng 1,32% (+24,0 ha); Nhóm cây rau, đậu, hoa cây cảnh 1.304,2 ha, trong đó: rau đậu 1.282,9 ha tương đương cùng kỳ, hoa cây cảnh 20,4 ha; nhóm cây hàng năm khác 526,2 ha. Diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ mùa năm 2009 tăng so với cùng kỳ là do thời tiết thuận lợi hơn vụ mùa năm trước (vụ mùa 2008 có mưa nhiều kéo dài liên tục làm ngập úng khoảng 1.000 ha không gieo cấy được).

Diện tích gieo trồng lúa vụ mùa 29.086,6 ha, đạt 102,78% kế hoạch vụ, tăng 3,47% so với vụ mùa năm 2008 (+975,9 ha). Diện tích lúa mùa 2009 tăng so với cùng kỳ năm trước do nhiều diện tích bị ngập úng không gieo cấy đươc. Cơ cấu giống lúa vụ mùa 2009 tiếp tục được duy trì với một số giống có năng suất cao và ổn định, phù hợp với đồng đất Vĩnh Phúc, các giống lúa chiếm tỷ trọng lớn: Khang dân 18 (59,8%), BTST (10,6%), Q5 (7,8%), TH3-3 (4,0%), Nếp (3,4), TBR-1 (3,4%)… Vụ mùa 2009, bà con nông dân tiếp tục chuyển đổi cơ cấu giống lúa, các giống lúa lai được gieo trồng nhiều.

1.2. Năng suất, sản lượng:

* Năng suất:

Vụ mùa năm 2009 đầu vụ thời tiết tương đối thuận lợi cho gieo trồng và phát triển của cây trồng, tuy nhiên sâu bệnh cung phát sinh ở nhiều địa phương (rầy nâu, sâu cuốn lá, sâu đục thân…), nhưng các ngành chức năng và các địa phương đã chỉ đạo và cùng với bà con nông dân phòng trừ kịp thời nên không ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất. Các công ty thủy nông đã chủ động khai thác nguồn nước đảm bảo đủ nước tưới phục vụ gieo trồng và chăm sóc. Kho khăn của vụ mùa năm nay giá vật tư nông nghiệp ở mức cao. Một số hộ không có điều kiện đâu tư cho sản xuất, lao động chuyển nhiều sang các ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn… Song đánh giá chung năng suất vụ mùa 2009 vẫn đạt khá trong các năm gần đây, đặc biệt là cây lúa, do có sự chỉ đạo tích cực của tỉnh và nỗ lực của bà con nông dân các địa phương trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mở rộng diện tích các giống có năng suất cao.

Năng suất lúa chung toàn tỉnh đạt 50,68 tạ/ha, đạt 104,5% kế hoạch và tăng 3,66% so với cùng kỳ (+1,79 tạ/ha). Cụ thể kết quả điều tra tại các hộ mẫu năng suât theo giống lúa như sau: Khang dân 1.241 hộ, năng suất đạt 49,28 tạ/ha. Bội tạp sơn thanh 290 hộ, năng suất đạt 50,70 tạ/ha. Q5 với 145 hộ năng suất đạt 57,57 tạ/ha. Vũ di 3 có 82 hộ, năng suất đạt 46,22 tạ/ha. Nếp 190 hộ, năng suất đạt 47,47 tạ/ha. HT1 có 114 hộ, năng suất đạt 53,46 tạ/ha. TH3-3 có 136 hộ, năng suất đạt 35,52 tạ/ha. SYN 6 có 29 hộ, năng suất đạt 53,50 tạ/ha. TBR có 64 hộ, năng suất đạt 62,75 tạ/ha… Theo kết quả điều tra thực thu tại hộ giống TBR là giống cho năng suất cao, tuy nhiên diện tích gieo trồng còn ít và chỉ tập chung chủ yếu ở huyện Yên Lạc.

Năng suất Ngô đạt 43,19 tạ/ha, tăng 5,25% so với cùng kỳ (+2,15 tạ/ha).

Năng suất sắn đạt 118,01 tạ/ha, tăng 12,71% so với cùng kỳ (+13,30 tạ/ha). Năng suất khoai lang đạt 63,78 tạ/ha, tăng 22,55% (+11,74 tạ/ha).

Năng suất mía đạt 530,71 tạ/ha, tương đương với cùng kỳ năm trước.

Năng suất lạc đạt 17,50 tạ/ha, tăng 12,71% (+1,79 tạ/ha). Đậu tương đạt 16,83 tạ/ha, giảm 6,58% so với cùng kỳ (-1,19 tạ/ha). Vừng đạt 5,09 tạ/ha.

Năng suất rau các loại đạt 183,37 tạ/ha, tăng 17,17% so với cùng kỳ (+26,88 tạ/ha), trong đó: Dưa chuột đạt 247,49 tạ/ha, tăng 26,92% (+52,49 tạ/ha). Rau muống đạt 147,03 tạ/ha, tăng 5,62% (+7,83 tạ/ha). Cải các loại đạt 163,35 tạ/ha, tăng 15,56% (+21,76 tạ/ha. Hành tươi đạt 202,11 tạ/ha… Năng suất đậu đỗ các loại đạt 15,14 tạ/ha, trong đó toàn bộ là đỗ xanh.

* Sản lượng:

Sản lượng lúa đạt 147.412,3 tấn đạt 107,44% kế hoạch, tăng 7,26% so với cùng kỳ (+9.981,9 tấn), nguyên nhân la do diện tích gieo trồng và năng suất đều tăng.

Sản lượng ngô đạt 4.097,9 tấn, tăng 29,73% so với cùng kỳ (+939,1 tấn)

Sản lượng sắn đạt 23.606,3 tấn, giảm 3,99% so với cùng kỳ (-983 tấn).

Sản lượng rau các loại đạt 20.056,8 tấn, giảm 0,32% so với cùng kỳ (-75,7 tấn). Sản lượng sắn giảm là do diện tích gieo trồng giảm.

Sản lượng khoai lang đạt 1.919,3 tấn, tăng 22,55% (+658,6 tấn).

Sản lượng mía đạt 4.282,8 tấn, giảm 10,2% (-486,2 tấn).

Sản lượng lạc đạt 913,5 tấn, tăng 2,79% so với cùng kỳ (+24,8 tấn). Sản lượng đậu tương đạt 2.189,5 tấn, giảm 5,8% so với cùng kỳ (-134,8 tấn), nguyên nhân là do năng suất đậu tương vụ mùa 2009 giảm.

2. Cả năm 2009

2.1. Diện tích gieo trồng:

Năm 2009 toàn tỉnh đã gieo trồng được 84.587,8 ha cây hàng năm các loại, đạt 89,04% so với kế hoạch năm và giảm 16,18% (-16.327,5 ha) so với năm 2008. Diện tích gieo trồng cây hàng năm cả năm 2009 giảm mạnh so với cùng kỳ, nguyên nhân là do vụ đông 2008-2009 có mưa kéo dài liên tiếp làm nhiều diện tích bị ngập úng, chết trước thời điểm điều tra kết thúc diện tích gieo trồng.

Nhóm cây lương thực có hạt 68.313,0 ha giảm 10,63% so với cùng kỳ (-8.124,1 ha), trong đó: Diện tích lúa đạt 104,25% kế hoạch năn và tăng 4,37% so với năm 2008 (+2.534,0 ha); Diện tích ngô 7.860,8 ha, giảm 21,39% so với kế hoạch và giảm 57,52% so với cùng kỳ (-10.643,7 ha).

Nhóm cây chất bột 3.824,9 ha, giảm 30,03% so với cùng kỳ (-1.641,2 ha), Nhóm cây có hạt chứa dầu 6.494,6 ha, giảm 40,76% so với cùng kỳ (-4.469,2 ha); Nhóm cây rau, đậu, hoa cây cảnh 4.492,5 ha, trong đó: Rau các loại 4.127,3 ha, đạt 35,89% KH và giảm 31,18% so với cùng kỳ (-1.870,1 ha), đậu đỗ các loại 261,6 ha, hoa các loại 59,0 ha, cây cảnh các loại 44,6 ha; Nhóm cây hàng năm khác đạt 1.332,8 ha.

2.2. Năng suất, sản lượng:

* Năng suất:

Năng suất lúa năm 2009 đạt 53,52 tạ/ha, đạt 101,94% kế hoạch, tăng 2,46% so với năm 2009 (+1,29 tạ/ha), nguyên nhân do vụ đông xuân và vụ mùa đều được mùa.

Năng suất ngô đạt 33,58 tạ/ha, đạt 83,94% kế hoạch và giảm 15,53% so với cả năm 2008 (-6,17 tạ/ha).

Năng suất sắn đạt 118,01 tạ/ha, tăng 7,29% so với KH và tăng 12,71% so với cùng kỳ (+13,30 tạ/ha); Năng suất khoai lang đạt 58,45 tạ/ha, đạt 64,94% so với KH và giảm 33,02% so với cùng kỳ (-28,81 tạ/ha).

Năng suất lạc đạt 18,11 tạ/ha, tăng 1,42% so với cùng kỳ (+0,25 tạ/ha); Năng suất đậu tương đạt 15,41 tạ/ha, giảm 8,71% so với cùng kỳ (-1,47 tạ/ha).

Năng suất rau các loại đạt 168,79 tạ/ha, giảm 2,18% so với cả năm 2008 (-3,77 tạ/ha); Năng suất đậu các loại đạt 8,60 tạ/hha.

* Sản lượng:

Kết thúc năm 2009 sản lượng lúa đạt 323.601,5 tấn, đạt 106,27% KH, tăng 6,94% so với năm 2008 (+21.005,9 tấn). Sản lượng ngô đạt 26.393,1 tấn, đạt 65,98% KH, giảm 64,12% so với năm 2008 (-47.156,1 tấn).

Sản lượng sắn đạt 23.606,3 tấn; Sản lượng khoai lang đạt 10.541,8 tấn, giảm 61,84% so với cùng kỳ (-17.082,4 tấn).

Sản lượng mía đạt 4.282,8 tấn, giảm 10,2% (-486,2 tấn).

Sản lượng lạc đạt 6.756,4 tấn, giảm 17,85% so với cùng kỳ (-1.468,5 tấn); Sản lượng đậu tương đạt 4.223,4 tấn, giảm 59,16% so với cùng kỳ (-6.292,8 tấn).

Sản lượng rau các loại đạt 69.665,3 tấn, giảm 32,68% so với năm 2008 (-3.824,7 tấn); Sản lượng đậu các loại đạt 217,2 tấn, giảm so với cùng kỳ.

III. Nhận xét chung:

Vụ mùa năm 2009 sản xuất nông nghiệp tiếp tục giữ được ổn định. Vụ mùa nhìn chung thời tiết tương đối thuận lợi cho cây trồng phát triển, diện tích, năng xuất, sản lượng một số loại cây trồng chính đạt khá, trong đó đặc biệt là cây lúa. Bà con nông dân cung tích cực tham gia sản xuất, mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng do vậy kết quả sản xuất vụ mùa 2009 đạt kết quả khá so với các năm gần đây.

Cả năm 2009 sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn do thời tiết bất thường gây ra. Mặc dù bà con nông dân đã có nhiều cố gắng trong sản xuất, đặc biệt tỉnh đã có nhiều chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, khuyến khích gieo trồng, thay đổi cơ cấu cây trồng và mùa vụ, nhưng kết quả sản xuất nông nghiệp vẫn gặp khó khăn.

Năm 2009 diện tích gieo trồng giảm nhiều so với năm 2008 (vụ đông 2008-2009 gặp khó khăn về thời tiết do bị ngập mất nhiều diện tích) nhưng với sự nỗ lực của bà con nông dân gieo trồng ở các vụ xuân và mùa nên sản xuất nông nghiệp giảm bớt được khó khăn và giữ được ổn định cơ cấu mùa vụ. Diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm tuy giảm nhưng diện tích, năng suất, sản lượng của cây trồng chính là lúa tăng đã mang lại hiệu quả cho sản xuất nông nghiệp và thu nhập cho bà con nông dân. Cùng với sự nỗ lực của bà con nông dân, Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các cấp, các ngành luôn quan tâm, chỉ đạo tích cực trong từng khâu sản xuất. Đặc biệt tỉnh đã có nhiều chính sách hỗ trợ trực tiếp cho nông nghiệp như: tiếp tục miễn thủy lợi phí, hỗ trợ thiệt hại vụ Đông 2008-2009, trợ giá giống lúa lai… đã tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp ngày càng phát triển, bà con nông dân yên tâm với đồng ruộng, đời sống ổn định và nâng cao, an ninh lương thực được đảm bảo.

 

Xem chi tiết …

 

Nơi nhận:

- Vụ NLTS-TCTK (B/cáo)

- Tỉnh ủy, UB tỉnh (B/cáo)

- Các đơn vị liên quan

- Lưu: LĐ, TH, NN

T/M CỤC TRƯỞNG

PHÓ CỤC TRƯỞNG

(đã ký)

 

Lê Phúc Tài

Ngày đăng: 19/07/2016 Tác giả: Tiến Thịnh - Số lần được xem: 1135

Báo cáo - Thống kê

Công tác thu gom, xử lý bao gói thuốc BVTV sau sử dụng trên địa bàn tỉnh năm 2021 Hướng dẫn thu gom, vận chuyển và xử lý bao gói thuốc BVTV sau sử dụng Nâng cao nhận thức của người dân về sử dụng nước sạch trên địa bàn huyện Yên Lạc Kỹ thuật nuôi trồng nấm Linh chi đỏ đạt năng suất cao Đảng bộ xã Đồng Ích làm theo lời Bác
Xem tất cả »

ĐƠN VỊ THUỘC CƠ SỞ


Liên kết website