Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2008 tỉnh Vĩnh Phúc


TỔNG CỤC THỐNG KÊ

CỤC THỐNG KÊ VĨNH PHÚC

------------------

Số: 405 /TK  - TS

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------

Vĩnh Phúc, ngày 20 tháng 12 năm 2008

 

BÁO CÁO

TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI NĂM 2008

TỈNH VĨNH PHÚC

(Kỳ ước năm lần thứ hai theo chế độ của TCTK )

 

Năm 2008, tình hình sản xuất kinh doanh trên điạ bàn tỉnh gặp nhiều khó khăn, nhất là những tháng cuối năm khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm sút mạnh, nên đã làm cho mức tăng trưởng giảm hơn những năm trước. Sản xuất Nông nghiệp vụ Đông Xuân tuy bị ảnh hưởng của rét đậm, rét hại kéo dài nhưng vẫn được mùa lớn; sản xuất vụ mùa năng suất, sản lượng cây trồng đạt kế hoạch năm và tăng so với năm 2007; sản xuất chăn nuôi bị ảnh hưởng của dịch bệnh gia súc và gia cầm song do có sự phòng chống tích cực và chủ động khắc phục của bà con nông dân nên sản xuất vẫn giữ được mức ổn định. Sản xuất công nghiệp chịu ảnh hưởng của lạm phát, khủng hoảng tài chính thế giới nên đã làm cho tốc độ tăng trưởng giảm mạnh, nhiều Doanh nghiệp giảm sản xuất, giảm việc làm nhất là trong những tháng cuối  năm. Tuy nhiên, công tác thu hút vốn đầu tư vào địa bàn tỉnh vẫn được kết quả tốt góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Các ngành dịch vụ phát triển ổn định, mức độ tăng khá, đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh và đời sống trên địa bàn. Thu ngân sách đạt cao nhất trong nhiều năm qua, đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển. Giá cả hàng hoá và dịch vụ luôn biến động và ở mức cao, nhất là giá lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, phân bón,… nên phần nào có ảnh hưởng  đến sản xuất  và đời sống của nhân dân. Tình hình an ninh trật tự xã hội cơ bản ổn định.

Sơ bộ năm 2008 các chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu của tỉnh Vĩnh Phúc đạt được như sau:

- Tổng giá trị tăng thêm (GDP) giá so sánh 1994 trên địa bàn tỉnh đạt 9.475,5 tỷ đồng + 14,78%. Trong đó: khu vực kinh tế trong nước +12,76%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài +17,53% ; khu vực I (Nông nghiệp) +6,89%, khu vực II (Công nghiệp) +14,91%, khu vực III (Dịch vụ) +18,77%. Cơ cấu kinh tế của tỉnh là: khu cực I 18,29%, khu vực II 56,98%, và khu vực III 24,74% ; so năm 2007 khu vực I tăng 3,92%, khu vực II giảm 2,95%, và khu vực III giảm 0,96%. Như vây, so kỳ ước năm vào tháng 9/2008 tăng trưởng, cơ cấu kinh tế của tỉnh có nhiều thay đổi: Tăng trưởng kinh tế của tỉnh giảm 5,13% trong đó khu vực II tăng trưởng giảm 10,57% và khu vực III tăng 3,95%; cơ cấu kinh tế biến động, tỷ trọng của khu vực I tăng 1,18%, khu vực II giảm 2,76% và khu vực III tăng 1,59%. Nguyên nhân gây ra sự biến động chủ yếu do một số doanh nghiệp sản xuất công nghiệp thuộc khu vực FDI gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh ở những tháng cuối năm nên phải giảm sản lượng sản xuất so ước tính lần trước, trong đó nổi lên là công ty HonDa Việt Nam và công ty Toyota Việt Nam đã cắt giảm sản lượng sản xuất ô tô, xe máy trong những tháng cuối năm.

- Một số lĩnh vực cụ thể khác:

+ Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ ước đạt 9.932,2 tỷ đồng +51,35% so năm 2007.

+ Tổng kim ngạch xuất khẩu trên lãnh thổ ước đạt 365,4 USD trên +3,57%; Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1.287,8 triệu USD +11,88% so năm 2007.

+ Tổng thu ngân sách trên địa bàn ước đạt 10.472,5 tỷ đồng +40,3% so năm 2007; tỷ lệ huy động GDP giá thực tế vào ngân sách đạt 48,82%. Tổng chi ngân sách địa phương 6.609,5 tỷ đồng +42,34% so năm 2007.

Tình hình sản xuất kinh doanh năm 2008 nổi lên những vấn đề chủ yếu sau:

Thứ nhất, về sản xuất Nông nghiệp: Mặc dù chịu ảnh hưởng không thuận của thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài ở vụ đông xuân, mưa bão và sâu bệnh ở vụ mùa; song với sự chỉ đạo sát sao của các cấp, các ngành, sự đầu tư hỗ chợ kịp thời của tỉnh cùng với sự nỗ lực khắc phục của bà con nông dân nên kết quả sản xuất đạt tốt; năng xuất và sản lượng cây trồng tăng khá so với năm trước. Sản xuất chăn nuôi bị ảnh hưởng của dịch bệnh những vẫn giữ được ổn định, tuy vậy mức tăng chưa cao. Sản xuất Lâm nghiệp có nhiều thuận lợi, diện tích trồng rừng tăng khá và sản lượng lâm sản khai thác ổn định. Sản xuất thuỷ sản tiếp tục duy trì được phát triển ổn định nhưng mức tăng chưa cao. Vĩnh Phúc đang tiếp tục tích cực triển khai và thực hiện tốt Nghị quyết 03 của Tỉnh uỷ về thực hiện phát triển  nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đờ sống nông dân. Đến nay, Nghị quyết đã và đang đi vào cuộc sống, mang lại những kết quả tốt. Các Nghị quyết của HĐND tỉnh về hỗ trợ thuỷ lợi phí, hỗ trợ thu nhập cho các hộ gia đình và cá nhân khi giao đất sản xuất nông nghiệp cho Nhà nước… từng bước được triển khai thực hiện có hiệu quả.

Thứ hai; Mặc dù chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế thế giới; lam phát, lãi suất ngân hàng tăng; giá cả nguyên vật liệu tăng cao… song với sự chỉ đạo của các cấp, các ngành và sự nỗ lực của bản thân các Doanh nghiệp nên sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh năm cơ bản vẫn duy trì được  sự ổn định và phát triển. Tuy nhiên, vào những tháng cuối năm, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn phải cắt giảm sản lượng, việc làm… nên sản xuất công nghiệp trên địa bàn chững lại và đạt mức tăng trưởng thấp hơn một số năm trước. Các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài  nhiều năm qua luôn chiếm tỷ trọng lớn, ảnh hưởng quyết định trong thực hiện giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh, nhưng vào những tháng cuối năm một số doanh nghiệp như công ty HonDa Việt Nam, công ty Toyota Việt Nam gặp kho khăn trong tiêu thụ sản phẩm đã phải giảm sản xuất làm tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp chậm lại.

Thứ ba, một số ngàng dịch vụ kinh doanh tuy chịu ảnh hưởng của các biện pháp kiềm chế lạm phát, của tăng giá hàng hoá nhưng vẫn tiếp tục duy trì ổn định và phát triển mạnh như tài chính tín dụng, vận tải, thông tin liên lạc, thương mại… Các ngành dịch vụ phát triển tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác phát triển, đáp ứng được nhu cầu dịch vụ ngày càng tăng của các ngành sản xuất, kinh doanh, của dân cư. Mặt khác giá trị tăng thêm của các ngành dịch vụ phi sản xuất tăng một phần do Nhà nước tiếp tục thực hiện lộ trình cải cách tiền lương, tăng mức lương tối thiểu 450 ngàn nên 540 ngàn đồng .Tình hình giá cả hàng hóa tăng cao ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống nhân dân, song nhờ có các chính sách, biện pháp can thiệp tích cực của Nhà nước đã góp phần kiềm chế lạm phát, tăng giá nên giá cả đã tăng chậm lại và giảm nhẹ ở những tháng cuối năm.

Thư tư, Công tác thu hút vốn đầu tư tiếp tục được tỉnh đẩy mạnh thực hiện; năm 2008 đã có thêm hàng trăm doanh nghiệp dân doanh với vốn đăng ký hàng ngàn tỷ đồng, hàng chục dự án có vốn đầu tư nước ngoài với vốn đăng ký hàng trăm triệu USD được thành lập mới. Song, do ảnh hưởng của các chính sách quản lý tiền tệ, kiềm chế lạm phát, của tăng giá và ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế thế giới nên nhiều dự án FDI đã đăng ký phải giảm tiến độ đầu tư, đầu tư chậm. Mặt khác, trong việc quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp, nhất là đối với các Doanh nghiệp dân doanh cần được tăng cường hơn, hạn chế hiện tượng đăng ký nhưng không đầu tư, đầu tư chậm. Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng vẫn còn gặp khó khăn, vướng mắc, chủ yếu tập trung ở khâu giải quyết chế độ, chính sách cho người bị thu hồi đất. Vì vậy, tỉnh cần tập trung chỉ đạo thực hiện thật tốt các chính sách hỗ trợ thu nhập cho các hộ gia đình và cá nhân khi giao đất sản xuất nông nghiệp cho Nhà nước và chỉ đạo dứt điểm những vụ khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai.

Thư năm, Năm 2008, mặc dù tình hình sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh gặp nhiều khó khăn, tăng trưởng chậm song thu ngân sách vẫn đạt kết quả cao nhất kể từ khi tái lập tỉnh đến nay. Thu ngân sách tăng, ổn định đã tạo điều kiện cho tỉnh đầu tư vào các ngành, các lĩnh vực kinh tế, xã hội của tỉnh. Hoạt động xuất nhập khẩu đạt khá tạo điều kiện tăng nguồn thu từ thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu.

I. VỀ KINH TẾ

1. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THUỶ SẢN

a. Sản xuất Nông nghiệp:

Kết quả sản xuất trồng trọt năm 2008:

+Diện tích gieo trồng cây hàng năm: Tổng diện tích gieo trồng đạt 100,9 ngàn ha +6,84% so năm 2007 và +4,65% so kế hoạch (KH), nguyên nhân tăng là diện tích cây vụ Đông xuân 2007 giảm do mưa đá làm mất trắng 6 ngàn ha rau màu. Diện tích cây lương thực có hạt 76,4 ngàn ha +5,67%, trong đó cây lúa 57,9 ngàn ha +3,64% KH và -1,68% so năm trước, cây ngô 18,5 ngàn ha đạt +1,67 KH và +37,99% so năm trước. Một số cây trồng khác: rau các loại gần 6 ngàn ha +5,39%, cây đậu tương 6,2 ngàn ha +53,35%, cây lạc 4,6 ngàn ha +17,72% so năm trước…

Năng suất  cây trồng: năng suất lúa cả năm đạt 52,03 tạ/ha bằng 106,31% KH và +13,73% so năm trước, năng suất một số cây trồng khác: ngô 39,73 tạ/ha +13,97%, sắn 105,55 tạ/ha - 0,52%, rau các loại 172,09 tạ/ha +2,88%, đậu tương 16,59 tạ/ha +14,25%, lạc 17,89 tạ/ha +9,88% so năm trước… Vụ mùa do ảnh hưởng của mưa bão, sâu bệnh năng suất lúa giảm (-2,34%) so cùng kỳ, song sản xuất vụ Đông xuân được mùa lớn nên năng xuất lúa cả năm vẫn đạt cao nhất trong nhiều năm qua.

Sản lượng cây trồng: Sản lượng cây lương thực có hạt đạt gần 375 ngàn tấn +18,53% so năm 2007 và +9,32% KH; trong đó thóc 301,4 ngàn tấn +10,17% KH và +11,81% so năm trước, ngô 73,5 ngàn tấn +5,95% KH và 57,28%. Sản lượng các loại cây trồng khác: Sắn 22,9 ngàn tấn -6,88%, rau các loại 103 ngàn tấn +8,42%, đậu tương 10,3 ngàn tấn +75,2%, lạc 8,2 ngàn tấn +29,35% so năm trước.

Gieo trồng cây hàng năm: Năm 2008, công tác trồng cây lâu năm vẫn được duy trì ổn định, toàn tỉnh hiện có 8,5 ngàn ha cây lâu năm -1,73% so năm trước do diện tích cây dâu tằm giảm, trong đó cây ăn quả 7,9 ngàn ha -0,7%, cây dâu tằm 243 ha -27,78% do hiệu quả kinh tế thấp, không ổn định. Năng suất một số cây trồng lâu năm: chuối 217,87 tạ/ha +0,64%, nhãn 89,5 tạ/ha +6,46%, vải 76,79 tạ/ha -1,72%, cam quýt 63,5 tạ/ha -15,52% so năm trước… tuy vậy năng suất đạt được chưa thật cao. Sản lượng một số cây lâu năm: chuối 30,3 ngàn tấn + 1,26%, nhãn 5,4 ngàn tấn +20,2%, vải 16 ngàn tấn +3,98%... Song giá bán sản phẩm thấp, không ổn định, thị trường tiêu thụ hẹp trong khi giá phân bón, nhân công cao nên hiệu quả kinh tế đem lại còn hạn chế.

Kết quả chăn nuôi: Năm 2008, dịch bệnh gia súc, gia cầm cơ bản được khống chế, ít tái phát nên sản xuất chăn nuôi trên địa bàn tỉnh giữ được ổn định, đàn đại gia súc giảm nhẹ, đàn lợn, gia cầm tăng khá. Song do giá thức ăn, con giống tăng cao nên người sản xuất còn gặp nhiều khó khăn. Kết quả điều tra thời điểm 1/10: Đàn trâu 25,1 ngàn con -2,14%; đàn bò 142,9 ngàn con -4,23%; đàn lợn không tính lợn sữa 491 ngàn con +5,97%; đàn gia cầm trên 7 triệu con +5,26% so năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng: trâu 1,17 ngàn tấn +20,23%, lợn đạt gần 53 ngàn tấn +7,75%, gia cầm 18 ngàn tấn +29,1% so năm trước. Một số doanh nghiệp, hộ gia đình thực hiện tổ chức trăn nuôi theo quy mô lớn, một số hộ nuôi nhím,rắn, ếch lồng… đã đem lại hiệu quả kinh tế, tuy vậy cần chú trọng tăng khâu cấp phép, quản lý, giám sát, kiểm dịch. Công tác phòng, chữa bệnh trong chăn nuôi được tiến hành thường xuyên, nhằm ngăn chặn dịch bệnh tái phát, các ngành chức năng và các địa phương tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công tác phòng dịch, kiểm dịch, kiểm soát vận chuyển kiên quyết xủ lý các trường hợp nghi nhiễm. Công tác tiêm vác xin phòng bệnh đã và đang được các cơ quan chức năng, địa phương tích cực thực hiện, đảm bảo đúng kế hoạch của tỉnh.

b. Sản xuất Lâm nghiệp: Năm 2008, diện tích trồng rừng tập trung trồng dự kiến đạt 940 ha +22,9% KH và +42% so năm 2007, trong đó trồng dự án 661 đạt 780 ha 126,8% KH và +55,7%. Phong trào trồng cây phân tán tiếp tục được duy trì, song do quỹ đất giảm nên dự kiến cả năm trồng được trên 131,3 ngàn cây -1,5% so năm trước. Công tác chăm sóc 1.595,1 ha đạt 84% KH và -15%, diện tích rừng được giao khoán bảo vệ 11,2 ngàn ha đạt 93,7% KH và -3,2% so năm 2007. Công tác quản lý khai thác lâm sản được tăng cường, không xẩy ra khai thác rừng chái phép trên địa bàn, cả năm dự kiến khai thác 25,7 ngàn m3 gỗ -0.04% và gần 90 ngàn ste củi +1,7% so năm trước. Công tác phòng chống cháy rừng được cảnh báo, kiểm tra giám sát  thường xuyên nên chỉ xẩy ra một số  vụ cháy nhỏ, thiệt hại ít .

c. Sản xuất thuỷ sản: Năm 2008, sản xuất thuỷ sản trên địa bàn tỉnh vẫn giữ được ổn định và phát triển. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản ước đạt 6,5 ngàn ha +6,9% KH và +14,6% so với năm 2007; trong đó nuôi cá 6,5 ngàn ha chiếm 99,8%. Dự án cải tạo ruộng trũng chuyển sang nuôi một vụ cá cho hiệu quả khá, đang được các địa phương tiếp tục thực hiện. Các mô hình nuôi trồng  giống thuỷ sản có giá trị cao được nhân rộng và đưa vào sản xuất như cá chim trắng, tôm càng xanh, cá rô phi đơn tính, cá tra, cá lóc bông, cá lúa. Chi cục thuỷ sản Vĩnh Phúc tiếp tục triển khai nghiên cứu và nuôi thử nghiệm các loài giống thuỷ sản có giá trị cao. Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản cả năm dự kiến đạt 111,8 ngàn tấn +18,3%; sản lượng thuỷ sản khai thác đạt 1,45 ngàn tấn +4,2% so năm trước. Sản xuất giống thuỷ sản  đạt kết quả khá, sản xuất được 2.371,3 triệu con cá giống các loại +27,9% và 150 ngàn tôm giống.

2. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP, ĐẦU TƯ XÂU DỰNG

a. Sản xuất Công nghiệp:

Năm 2008, sản xuất Công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc cơ bản duy trì được sự ổn định và phát triển, song tốc độ tăng trưởng giảm hơn so những năm trước. Nguyên nhân chủ yếu là do chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính , suy thoái kinh tế trên thế giới, lạm phát, lãi suất ngân hàng tăng, giá cả nguyên vật liệu tăng cao… Nên vào những tháng cuối năm, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn phải cắt giảm sản lượng, việc làm… dẫn đến sản xuất công nghiệp trên địa bàn chững lại và đạt mức tăng trưởng thấp hơn một số năm trước. Các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhiều năm qua luôn chiếm tỷ trọng lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến mức tăng về giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh, nhưng vào những tháng cuối năm một số doanh nghiệp như công ty Honda Việt Nam, công ty Toyota Việt Nam gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm đã phải giảm sản xuất. Cả năm 2008, ước tính tổng giá trị sản xuất Công nghiệp trên địa bàn theo giá CĐ 1994 (không tính Công nghiệp do ANQP, Điện lực quản lý và một số chi nhánh doanh nghiệp) ước đạt 32.707,8 tỷ đồng +22,7% so năm 2007. Trong đó kinh tế Nhà nước thực hiện 487,5 tỷ -17,99%; ngoài Nhà nước thực hiện 3.931,2 tỷ +26,32%; khu vực (FDI) thực hiện 28.289,1 tỷ +23,2%; theo ngành Công nghiệp cấp I thì Công nghiệp khai thác mỏ đạt 30,1 tỷ +20,05%, công nghiệp chế biến 32.667,1 tỷ +22,71 và công nghiệp khai thác, phân phối điện nước 10,6 tỷ +13,31% so năm trước. Năm 2008, nhìn chung sản phẩm công nghiệp chủ yếu hầu hết đều tăng, một số chủng loại sản phẩm mới được đưa vào tiêu thụ trên thị trường song mức độ tăng của các loại sản phẩm có giá trị lớn như ô tô, xe máy, gạch ốp lát đều giảm hơn so năm trước. Sản phẩm của khu vực FDI dự kiến thực hiện: ô tô 5 đến 14 chỗ 30.942 chiếc +37,56%, xe máy Honda 1,4 triệu chiếc +12,78, lốp xe máy 5,2 triệu chiếc +12,54, săm xe máy 4,9 triệu chiếc +13,13%...

b. Đầu tư và Xây dựng

Năm 2008, trong tình hình lạm phát, giá cả tăng cao, nhất là nguyên vật liệu ở những tháng đầu năm; Nhà nước thực hiện các biện pháp kiềm chế lạm phát, tăng giá, ngành ngân hàng tăng lãi xuất, hạn chế cho vay vốn, công tác phê duyệt, điều chỉnh dự toán và giải ngân thực hiện chậm, giàn trải, thời tiết diễn biến phức tạp, mưa to gây ngập úng trên diện rộng… tất cả đã tác động lớn đến công tác đầu tư xây dựng. Các công trình dự án phần lớn đều giảm tiến độ, một số dự án phải cắt giảm đầu tư, chờ phê duyệt bổ sung dự toán. Cả năm, thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn Nhà nước do địa phương quản lý  sơ bộ đạt 1.008,5 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn thuộc ngân sách Trung ương thực hiện đạt 135,8 tỷ chiếm 13,47% tổng số, vốn ngân sách địa phương 856,1 tỷ 84,89%. Vào những tháng cuối năm, giá vật liệu xây dựng đã giảm mạnh, các ngân hàng hạ lãi suất và mở rộng cho vay, ngân sách địa phương tập trung giải ngân trong lĩnh vực XDCB… tạo điều kiện cho các chủ đầu tư, đơn vị thi công tăng cường đẩy mạnh thi công nên các công trình, dự án đều có tiến độ thi công nhanh hơn. Song một số công trình dự án trọng điểm tiến độ thi công còn chậm khả năng không hoàn thành theo đúng tiến độ. Trong năm, trên địa bàn tỉnh đã khởi công một số dự án; một số dự án trọng điểm tiếp tục được đẩy mạnh thi công hoàn thành như: Dự án cải tạo nâng cấp Quốc lộ II đoạn Nội Bài- Vĩnh Yên, khơi công mới dự án Trung tâm thương mại Vĩnh Yên Plaza với vốn đầu tư trên 300 tỷ… Phong trào giao thông nông thôn tiếp tục phát triển mạnh ở các địa phương trong tỉnh với số vốn đầu tư lên hàng chục tỷ đồng, trong đó dân đóng góp một phần nhỏ.

Năm 2008, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành do địa phương quản lý sơ bộ đạt 2.356,7 tỷ đồng +33,17% so năm 2007. Trong đó các doanh nghiệp doanh nghiệp tư nhân thực hiện đạt 1.784,7 tỷ +40,22%; kinh tế Cá thể 545 tỷ +16,31% so năn trước.

3. CÁC NGÀNH DỊCH VỤ CHỦ YẾU

- Vận tải: Năm 2008, trong những tháng đầu năm giá xăng dầu tăng cao nhưng đã giảm mạnh ở trong những tháng cuối năm nên hoạt động vận tải trên  địa bàn tỉnh ổn định và phát triển. Tuy vây giá xăng dầu tăng, giảm không ổn định nên đã ảnh hưởng làm tăng giá thành vận tải, một số chủ xe, hãng taxi tư nhân lợi dụng nâng giá cước khi xăng dầu tăng giá song không kịp thời giảm cước khi giá xăng dầu giảm gây bức súc cho người sử dụng dịch vụ vận tải. Vận tải hàng hoá, số lượng phương tiện vận tải tăng, chủ động khai thác tốt nguồn hàng, tuyến đường nên sản lượng tăng khá ở cả đường sông và đường bộ. Sản lượng vận tải hàng hoá sơ bộ đạt 11,9 triệu tấn bằng 851,7 triệu tấn km so cùng kỳ +30,22% về tấn và +67,36% về tấn km. Năm 2008, các tuyến xe buýt trên địa bàn tỉnh mở thêm tuyến mới và tiếp tục được khai thác có hiệu quả, một số hãng taxi thành lập mới hoạt động ổn định góp phần tăng sản lượng vận tải hành khách. Sản lượng vận tải hành khách sơ bộ đạt 13,8 triệu lượt hành khách  bằng 1.293,2 triệu hành khách km, so cùng kỳ  +80,85% về hành khách và +42,65% về hành khách km. Tổng doanh thu vận tải cả năm sơ bộ đạt 703,6 tỷ đồng +20,77% so cùng kỳ, trong đó doanh thu đường bộ đạt 633,3 tỷ đồng +22,6%.

-Thương mại, giá cả: Năm 2008, tình hình kinh tế xã hội có nhiều biến động phức tạp, chịu ảnh hưởng của lạm phát, suy thoái kinh tế thế giới, giá cả tăng cao song vẫn tăng trưởng, đời sống ngày càng được cải thiện, nhu cầu tiêu dùng tăng. Cùng với đó, lực lượng tham gia kinh doanh hàng hoá dịch vụ tăng, đa dạng góp phần đẩy mạnh lưu thông hàng hoá trên thị trường. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội cả năm sơ bộ đạt 9.932,3 tỷ đồng +51,35% so năm 2007; trong đó kinh tế cá thể 7.233,9 tỷ 63,44% và kinh tế Tư nhân 2.611,6 tỷ 40,03%. Năm 2008, lượng khách đến địa bàn du lịch, nghỉ mát tăng keo theo doanh thu ngành khách sạn nhà hàng, dịch vụ tăng khá: khách sạn nhà hàng +51,72%, dịch vụ +52,29% so cùng kỳ.

Năm 2008, do nền kinh tế thế giới  suy thoái  nên thị trường xuất khẩu  hàng hoá bị thu hẹp, kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tỉnh tuy vẫn tăng song mức tăng giảm hơn. Tổng giá trị xuất khẩu trên lãnh thổ cả năm sơ bộ đạt 315,4 triệu USD +15,27% so năm 2007; trong đó kinh tế Nhà nước thực hiện 6 triệu USD -11,1%; kinh tế tư nhân 22,8 triệu USD +80,12% và khu vực (FDI) 286,5 triệu USD +12,74%. Mặt hàng xuất khẩu  chủ yếu là hàng dệt may 176,5 triệu USD +24,41%, xe máy 36,5 triệu USD, phụ tùng ô tô trên 23,9 triệu USD… Các đơn vị có kim ngạch xuất khẩu đạt khá như công ty Honda thực hiện đạt 36,5 triệu USD, công ty TNHH VinaKorea 70,8 triệu USD, công ty Toyota 24,6 triệu USD…Năm 2008, mặc dù gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, nhưng các doanh nghiệp vẫn tiếp tục nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất, tuy vậy mức độ nhập khẩu đã chững lại và giảm ở những tháng cuối năm. Cả năm, tổng kim ngạch nhập khẩu trên lãnh thổ sơ bộ đạt 1.197,2 triệu USD +25,81% so năm 2007; trong đó riêng khu vực (FDI) có tổng giá trị hàng hoá nhập đạt gần 1.149,1 triệu chiếm 95,98% tổng số và +33,41%. Mặt hàng nhập chủ yếu là nguyên vật liệu, linh kiện ô tô, xe máy và máy móc thiết bị của khu vực (FDI).

Năm 2008, tình hình giá cả hàng hoá và dịch vụ mặc dù Nhà nước thực hiện các biện pháp kiềm chế song vẫn tăng cao trong những tháng đầu năm, nhưng đến tháng 11, 12/2008 đã giảm. Tháng 12/2008 chỉ số hàng hoá và dịch vụ -0,34% so tháng trước và +21,17% so tháng 12 năm 2007. Trong đó chỉ số giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống -0,2% (hàng lương thực -3,11%, thực phẩm +0,37%); Nhà ở, điện nước, chất đốt -2,09%; đồ uống và thuốc lá +1,6%; thuốc, dịch vụ y tế +0,93% so tháng 12 năm trước… Như vậy, chỉ số giá bình quân năm 2008 đã tăng 24,81% so năm trước, trong đó hàng lương thực +47,32%, thực phẩm +37,55%... Dự kiến, từ nay đến tết cổ truyền tình hình giá cả sẽ có xu hướng nhích nên, nhất là hàng lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và một số dịch vụ; tuy vậy Nhà nước cần có những biện pháp kích cầu chống hiện tượng thiểu phát. Giá vàng tiếp tục biến động tăng do giá trên thị trường thế giới tăng, chỉ số tháng 12/2008 +1,49% so tháng trước, +8,95% so cùng kỳ và sau 12 tháng  +32,35%; giá vàng bình quân cả năm 1.768,1 ngàn đồng/chỉ. Giá đô la Mỹ có su hướng tăng trong những tháng cuối năm, tháng 12/2008 chỉ số giá +0,5% so tháng trước, sau 12 tháng chỉ số giá +2,43% so cùng kỳ; giá bình quân cả năm 2008 là 16.499 đồng/USD.

-Tài chính, tín dụng: Kinh tế trên địa bàn cơ bản ổn định và tăng khá nên công tác thu, chi ngân sách địa phương đạt kết quả cao. Năm 2008, tổng thu ngân sách sơ bộ đạt 10.472 tỷ đồng +40,3% so năm 2007. Trong đó khoán thu từ nguồn kinh tế ngoài Nhà nước đạt 291,1 tỷ chiếm 2,78% và +32,75%; thu  từ khu vực FDI đạt 6.292,9 tỷ chiếm 60,09% và +72,82%; khoán thu thuế xuất nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu đạt 1.700 tỷ +51,35% so năm 2007.Tổng chi ngân sách địa phương năm 2008 sơ bộ đạt 6.609,5 tỷ đồng +42,34 so năm 2007.Một số khoản chi tăng như: chi cho xây dựng cơ bản 2.925,7 tỷ +74,54%, chi cho sự nghiệp kinh tế 190,2 tỷ +107,88%, chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 746,7 tỷ +14,34%... Nhìn chung các khoản chi đều tăng và vượt dự toán, tuy vậy công tác giải ngân trong đầu tư xây dựng cơ bản còn chậm. mặt khác,thực hiện các biện pháp kiềm chế lạm phát đã góp phần giảm chi ngân sách đồng thời giúp cho tỉnh tập trung chỉ có trọng điểm, không giàn trải. Do nguồn thu đạt lớn nên tỉnh có điều kiện tự cân đối ngân sách, đồng thời cũng tập trung chi cho XDCB, cho sự nghiệp kinh tế.

Năm 2008, Nhà nước thực hiện các biện pháp  kiềm chế lạm phát, nhất là trong lĩnh vực tiền tệ đã ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng, ngân hàng. Song, nhằm đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, các tổ chức tín dụng, ngân hàng đã đưa ra  những chính sách ưu đãi như tăng lãi xuất tiền gửi, mở thưởng tiết kiệm… để tăng huy động vốn. Tính đến hết ngày 30/11/2008, tổng vốn huy động đạt 6.482,8 tỷ đồng +12,1% so đầu năm. Số dư tiền gửi của các tổ chức kinh tế ổ định, tăng cao là tiền gửi bằng đồng ngoại tệ. Lượng tiền gửi tiết kiệm trong dân cư tăng khá, đạt 4.404 tỷ +43,5%, trong đó chủ yếu là tiền gửi VND 3.537,9 tỷ +35.94%. cùng với huy động vốn, ngành ngân hàng đẩy mạnh cho vay, số dự nợ đến hết 30/11/2008 đạt 9.096,7 tỷ đồng +18,21% so đầu năm; trong đó dư nợ ngắn hạn 6.166,7 tỷ +21,63%; trung hạn và dài hạn 2.775,1 tỷ +13,5%. Như vậy, mặc dù, tình hình lạm phát, giá cả tăng nhưng mức độ ảnh hưởng đến hoạt động của các ngân hàng đã giảm dần, sản xuất kinh doanh đã ổn định và phát triển.

II. VỀ XÃ HỘI

1. Tình hình đời sống dân cư và công tác xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm:

Năm 2008, lam phát, giá cả hàng hoá tăng cao; cuối tháng 10 đầu tháng 11/2008 trên địa bàn tỉnh mưa to đã gây ngập lụt trên diện rộng đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống của người dân, gây thiệt nặng nề về người và của. Song, với sự chỉ đạo, hỗ chợ kịp thời của các cấp, các ngành, các cơ quan, đoàn thể nhân dân các địa phương đã nhanh tróng ổn định cuộc sống, khôi phục sản xuất. Trong năm, tỉnh không còn hộ đói, số hộ nghèo còn 24.942 hộ chiếm 10,4% giảm 2,1% so năm 2007. Công tác cứu trợ xã hội, đền ơn đáp nghĩa được các địa phương, các ngành, các cấp duy trì thường xuyên nhất là trong dịp tết cổ truyền, dịp 27/7 với số tiền hàng chục tỷ đồng. Các hoạt động xã hội, từ thiện như ủng hộ người nghèo, gây quỹ tình thương, quỹ bảo trợ trẻ em…Được các cấp, các ngành và nhân dân tích cực hưởng ứng. Năm 2008, toàn tỉnh đã xây dựng mới được 92 nhà tình nghĩa, sửa chữa 178 nhà cho người có công với kinh phí trên 4,4 tỷ đồng. Công tác xây nhà đại đoàn kết của tỉnh đạt kết quả tốt toàn tỉnh đã ủng hộ, giúp đỡ xây dựng được 2.423 nhà đại đoàn kết  với tổng kinh phí 25 tỷ đồng. Nhằm giúp cho các hộ nghèo có vốn sản xuất, các ngành chức năng đã tích cực giải ngân các quỹ xoá đói giảm nghèo, quỹ 120 tạo việc làm…cả năm đã có 12 ngàn hộ nghèo, 18,6 ngàn hộ gia đình, học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay 296 tỷ đồng vốn từ ngân hàng chính sách xã hội, trong đó dư nợ nghèo 84 tỷ, dư nợ học sinh, sinh viên vay 212 tỷ đồng… các chương trình hỗ trợ vay vốn đảm bảo nguồn nước sạch, vệ sinh môi trường tiếp tục được các địa phương triển khai thực hiện với lãi xuất cho vay ưu đãi.

Công tác giải quyết việc làm luôn được chú trọng, sơ bộ cả năm có trên 23.578 người, xuất khẩu lao động 1.634 người. Do làm tốt công tác giải quyết việc làm nên tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị giảm, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn tăng.

Kinh tế của tỉnh phát triển nhanh, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ổn định, có lãi nên thu nhập của người lao động tăng. Thu nhập bình quân 1 tháng của một công nhân viên chức Nhà nước đạt trên 2 triệu đồng, khu vực FDI đạt 2,4 triệu đồng, khu vực ngoài quốc doanh đạt 1,6 triệu đồng.

2. Công tác Y tế - Cứu trợ xã hội:

Năm 2008, ngành Y tế Vĩnh Phúc tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ  cán bộ y tế, củng cố mạng lưới y tế cơ sở, đầu tư cải tạo, mở rộng, nâng cấp một số bệnh viện lớn của ngành. Ngành đã xây dựng chế độ khuyến khích  bác sĩ về công tác làm việc tại tuyến huyện, các trạm y tế xã. Toàn ngành luôn thực hiện tốt công tác phòng, chữa bệnh trên địa bàn tỉnh. Các trương trình quốc gia về y tế được triển khai sâu rộng trên phạm vi toàn tỉnh. Công tác phòng chống dịch bệnh luôn được chú trọng, các bệnh lây nhiễm được giám sát chặt chẽ không để xẩy ra trên diện rộng, nhất là các dịch bênh nguy hiểm như tiêu chảy, dịch tả. Trong năm, trên địa bàn tỉnh xẩy ra 9 vụ dịch, trong đó 3 vụ dịch tả với 98 người mắc, 2 vụ dịch sởi với 10 người mắc nhưng không có người tử vong…Tính đến cuối tháng 11/2008, trên địa bàn tỉnh số người nhiễm vi rút HIV/AIDS là 1.121 người, trong đó bệnh nhân AIDS là 324 người và có 194 người đã chết. Như vậy, trong năm 2008 tăng 530 người nhiễm, 151 bệnh nhân và 139 người chết. Các đối tượng nhiễm bệnh hiện nay hầu hết đều được tập trung quản lý trong các trại giam, trung tâm cai nghiện hoặc tại các địa phương. Ngành  y tế phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức tốt công tác kiểm tra các cơ sở chế biến, kinh doanh thực phẩm, nhà hàng ăn uống nên đã hạn chế được các vụ ngộ độc thực phẩm, đến hết tháng 11/2008 trên địa bàn tỉnh vẫn còn xây ra 9 vụ ngộ độc với 124 người mắc không có tử vong. Như vậy vấn đề an toàn thực phẩm vẫn là vấn đề nổi cộm cần khắc phục nhất là trong dịp tết cổ truyền.

3. Tình hình Giáo dục – Đào tạo

Năm 2008, ngành Giáo dục đào tạo Vĩnh Phúc đã và đang phấn đấu hoàn thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác đề ra, Toàn ngành tiếp tục thực hiện đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục ở tất cả các cấp học, tích cực hưởng ứng cuộc vận động “hai không” của ngành giáo dục. Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, ngành giáo dục đã tích cực chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, bổ sung biên chế giáo viên các cấp học, đảm bảo đủ giáo viên và đồng bộ về cơ cấu bộ môn, công tác bồi dưỡng giáo viên luôn được chú trọng thực hiện…Ngay từ đầu năm học, các địa phương trong tỉnh đã tổ chức tốt công tác khai giảng năm học 2008 – 2009, cơ sở vật chất các trường, lớp được cải thiện đáng kể. Đến nay toàn tỉnh 159 trường mầm non, 174 trường TH, 144 trường THCS, 37 trường THPT, 01 trường phổ thông cơ sở và 01 trường trung học. Số trường mầm non đạt chuẩn quốc gia là 62 đạt tỷ lệ 38,99%; số trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia là 153 đạt tỷ lệ 42,86%; trong đó TH 64,94%, THCS 22,76% và THPT 18,42%. Số học sinh đầu năm các cấp học: Tiểu học 70,9 ngàn, THCS 64,7 ngàn vàTHPT gần 41,2 ngàn em. Tỷ lệ xét tốt nghiệp năm học 2007 – 2008: bậc TH 96,99%, bậc THCS 97,9%; tỷ lệ tốt nghiệp THPT đợt 1 đạt 85,77%, đợt 2 đạt 60,21%...Tuy vậy, một số vấn đề cần được các cấp, các ngành cũng như nhân dân quan tâm là tỷ lệ học sinh bỏ học, lưu ban có chiều hướng tăng, năm học 2007 – 2008 tỷ lệ học sinh bỏ học bậc tiểu học là 0,5%, THCS 2,81% và THPT 5,36%, tỷ lệ học sinh lưu ban bấc tiểu học là 1,65%, THCS 1,53% và THPT 0,99%.

Về giáo dục chuyên nghiệp , giáo dục thường xuyên và dạy nghề được coi trọng và quan tâm đầu tư. Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 8 trường trung học chuyên nghiệp và đào tạo công nhân kỹ thuật. Các trường đào tạo nghề, công nhân kỹ thuật tạp trung đào tạo các nghè như kỹ thuật sửa chũa và lắp ráp máy tính, tin học, điện công nghiệp, dân dụng, tiện, hàn, công nghệ ô tô, điện tử, điện lạnh... đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của các đơn vị trên địa bàn. Toàn tỉnh có 4 trường Cao đẳng, đại học, đến nay các trường đã cơ bản hoàn thành công tác tuyển sinh.

4. Hoạt động văn hóa Thể thao:

Các hoạt động văn hóa thông tin thể thao được triển khai sâu rộng trên địa bàn tỉnh chào mừng các ngày lễ tết, các ngày kỷ niệm truyền thống. Ngày thành lập đảng, ngày Quốc khánh 2/9… Công tác thông tin tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng. Nhà nước được triển khai kịp thời sâu rộng dưới nhiều hình thức. Công tác tuyên truyền, vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ chí Minh”, tuyên truyền thực hiện an toàn giao thông và đội mũ bảo hiểm khi đi mô tô xe máy khi tham gia giao thông, tuyên truyền tuyển quân…được các cấp, các ngành chức năng thực hiện rộng khắp, đạt kết quả. Phong trao thực hiện nếp sống văn minh, toàn dân xây dựng gia đình, làng xã văn hóa ngày càng được đẩy mạnh. Đến nay, toàn tỉnh đã xây mới, nâng cấp được 125/137 nhà văn hóa xã, phường, thị trấn; 1.094/1.452 nhà văn hóa thôn, làng , khu phố. Tỷ lệ gia đình văn hóa của tỉnh đạt 78,9%, làng văn hóa 57% và 95% đơn vị được công nhận là đơn vị văn hóa. Phong trào thể dục thể thao quần chúng, thể thao thành tích cao ngày càng phát triển. Thể thao thành tích cao các đoàn vận động viên Vĩnh Phúc đạt được những thành tích tốt trong các giải toàn quốc, giải quốc tế phong trào TDTT quần chúng phát triển sôi động, toàn tỉnh có trên 216 ngàn người tham gia luyện tập TDTT thường xuyên đạt 22,3% dân số; 268 câu lạc bộ TDTT. Số vận động viên tập trung trong các đội tuyển của tỉnh là 138 người; trong đó có 23 vận động viên đạt cấp quốc gia gồm 13 kiện tướng, 10 vận động cấp I; đóng góp 10 vận động viên cho đội tuyển Quốc gia.

5. Tình hình trật tự, an toàn xã hội:

Thực hiện quy định của Chính phủ về công tác an toàn giao thông, các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát góp phần giảm thiểu các vụ tai nạn giao thông; ý thức chấp hành luật lệ, quy định trong giao thông của nhân dân ngày càng được nâng lên. Mười một tháng năm 2008 trên địa bàn tỉnh xẩy ra 83 vụ tai nạn giao thông (+5 vụ so cùng kỳ) làm chết 87 người, bị thương 56 người. Tình hình tệ nạn xã hội trên địa bàn tuy được kiềm chế nhưng vẫn là vấn đề  bức xúc; hiện nay trên địa bàn tỉnh vẫn còn hàng ngàn đối tượng liên quan đến ma túy, mại dâm, số vụ vi phạm pháp luật vẫn có  chiều hướng tăng.
 

Xem chi tiết …
 

Nơi nhận:                                                                

- Vụ THTT – TCTK(b/c)                                                

- Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh                                  

- Các ngành tổng hợp tỉnh

- Huyện ủy, UBND các huyện, thị

- Lãnh đạo cục

- Lưu TH

 SL: 25 bản

CỤC TRƯỞNG

(Đã ký)

 

 

Hoàng Đức Thảo

 

Ngày đăng: 19/07/2016 Tác giả: Tiến Thịnh - Số lần được xem: 1439

Báo cáo - Thống kê

Tuyên truyền nước sạch trên địa bàn huyện Vĩnh Tường Kỹ thuật nhân giống, trồng và chăm sóc Trà hoa vàng Tăng cường các hoạt động kiểm tra, giám sát đảm bảo ATTP năm 2021 Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi bò thịt sinh sản theo hướng sản xuất tập trung Kỹ Thuật nuôi vịt đẻ trứng an toàn sinh học
Xem tất cả »

ĐƠN VỊ THUỘC CƠ SỞ


Liên kết website