KỸ THUẬT NUÔI CÁ TRÊ LAI THƯƠNG PHẨM


  1. Giới thiệu

Cá Trê lai là một trong những loài thuỷ sản đặc hữu của vùng đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long. Trong vài năm qua, cá Trê lai là loại cá đồng luôn có giá cao và ổn định. Cá Trê lai là con lai giữa cá Trê vàng của Việt Nam và cá Trê Phi, cá rất nhanh lớn, thịt thơm ngon. Do đó, nhiều địa phương trong cả nước đã và đang phát triển mô hình gây nuôi cá Trê lai thương phẩm cho hiệu quả kinh tế rất khả quan, bởi cá Trê lai là đối tượng khá dễ nuôi và chi phí đầu tư thấp.

  1. Kỹ thuật nuôi thương phẩm cá Trê lai
    1. Chuẩn bị ao nuôi

Diện tích ao nuôi cá Trê lai thích hợp từ 500-1.000 m2. Mực nước dao động từ 1,6-1,8 m. Ao nuôi bố trí gần nguồn cung cấp nước, chủ động được khâu cấp, thoát nước. Đáy ao ít bùn, bờ ao vững chắc.

Cải tạo ao nuôi bằng cách tát cạn ao, bón vôi 10 kg/100 m2. Phơi đáy ao từ 3-4 ngày, sau đó cấp nước vào qua lưới lọc. Sử dụng bột đậu nành hay bột cá để bón với liều lượng từ 2-3 kg/100 m2 nhằm gây nuôi thức ăn tự nhiên.

  1. Thả giống

Cá giống thả nuôi phải đồng đều, kích cỡ từ 5-10 cm, không xây xát, dị hình. Mật độ thả từ 15-20 con/m2. Nên thả cá vào lúc trời mát. Trước khi thả cá cần tắm cá bằng nước muối với liều lượng từ 3-5 g muối ăn/lít nước.

a/ Nuôi đơn : Chỉ nuôi một loại cá Trê lai lai.

 

Cỡ cá (cm)

Mật độ thả (con/m2)

Thời gian thu hoạch

3 - 4

60 - 70

> 3 tháng

4 - 6

40 -  50

> 3 tháng

5 - 7

30 - 40

> 3 tháng

10 -12

20 - 30

> 2.5 tháng

 

b/ Nuôi ghép: Có thể thả ghép cá Trê lai lai chung với các loài cá như  rô phi, chép, trắm cỏ, trôi. Mật dộ thả cho từng loại cá như sau:

Loại cá

Cỡ cá

(cm)

Mật độ thả (con/m2)

Trê lai

4 - 6

10

Trôi

6 - 8

5

Chép

6 - 8

3

Trắm

6 - 8

1 - 2

Rô phi

6 - 8

10

 

c/ Nuôi cá đánh tỉa thả bù: Thường phải chuẩn bị thêm một ao nhỏ để ương cá lứa thả bù, diện tích ao khoảng 100 – 300m2 . Mật độ thả các loại này như sau:

 

Cỡ cá

(cm)

Số con

(con/kg)

Mật độ thả

(con/m2)

2 - 3

3000 - 4000

100 - 120

3 - 4

1800 - 2200

80 - 100

 

 

  1. Thức ăn

- Cá Trê lai lai ăn tạp, rất háu ăn. Thức ăn dùng nuôi cá gồm các loại phụ phế phẩm đông lạnh như đầu vỏ tôm, da cá, đầu lòng cá, ốc, cua... , cám, thức ăn gia súc, cám gạo, bột bắp,...

- Lượng thức ăn cho cá ăn trong ngày bằng 10-15% trọng lượng cá, cho cá ăn 2 lần/ngày.

- Trong quá trình nuôi nên định kỳ 1 tuần/ 1 lần bổ sung thêm Vitamin C với lượng 5 - 10 g/10 kg thức ăn cho cá trong ngày.

- Trong tuần đầu tiên thả cá thì thức ăn cho cá nên được nấu chín.

Sử dụng thức ăn công nghiệp có bổ sung thức ăn tự chế từ phụ phế phẩm nông nghiệp như tấm, cám, phụ phế phẩm của nhà máy chế biến thuỷ sản, phế phẩm từ lò mổ gia súc, các loại tôm tép, cua, ốc, cá tạp...

Tuỳ theo các giai đoạn phát triển, lượng thức ăn hằng ngày cho cá Trê lai dao động từ 5-7% trọng lượng cá trong ao. Hàm lượng chất đạm cần thiết để duy trì cá phát triển tốt ở tháng thứ 1 là từ 28-30%, tháng thứ 2 là 24-26% và tháng thứ 3 là 18-20%. Mỗi ngày cho cá ăn 2 lần. Nên dùng sàng cho ăn và lập nhiều điểm cho ăn ở trong ao để cá phát triển đều hơn.

  1. Chăm sóc và quản lý ao nuôi

Cần duy trì mực nước trong ao nuôi ổn định trong suốt vụ nuôi. Định kỳ thay nước từ 10-15 ngày/lần, mỗi lần thay 1/3 nước trong ao. Bón vôi bột (CaCO3) 1 - 2 kg/100m2 định kỳ 15 ngày/lần. Thường xuyên kiểm tra bờ, bọng, rào chắn cẩn thận đề phòng sự thất thoát cá nuôi, nhất là vào mùa mưa lũ.

Theo dõi hoạt động của cá hằng ngày. Điều chỉnh lượng thức ăn sao cho vừa đủ, không thừa mà cũng không thiếu. Định kỳ 2 lần/tuần trộn thêm Vitamine C (từ 60-100 mg/kg thức ăn) và chất khoáng vào thức ăn để tăng cường sức đề kháng cũng như giúp cá tăng trưởng tốt hơn.

  1. Phòng trị bệnh cho cá Trê lai

- Bệnh nhầy da: Bệnh này do ký sinh trùng gây ra. Khi nhiễm bệnh cá bơi thẳng đứng trên mặt nước, vây bị ăn mòn, râu quăn, da có đám chất nhầy. Điều trị bệnh nhầy da bằng sunphat đồng 0,3 g/m3 nước, tắm trong 2-3 ngày liên tục hoặc dùng Fomalin 25 g/m3 tắm trong 2 ngày liên tục.

- Bệnh trắng da khoang thân: Khi mắc bệnh cá thường nổi trên mặt nước, da bị loét, thân có những vệt trắng, vây cụt. Bệnh do vi khuẩn Flexiloacter columnanis gây ra. Điều trị bệnh bằng các loại thuốc kháng sinh như Chloroxit, Tetracilin, Penixilin tắm cho cá trong 30 phút. Liều lượng 1 viên 250 mg/10 lít nước.

- Bệnh trùng quả dưa: Thân cá tại gốc vây ngực có nhiều chấm nhỏ như hạt tấm màu trắng. Các chấm này vỡ ra tạo nên các vết loét ở chỗ vỡ. Điều trị bệnh bằng cách tắm cá bằng thuốc Vernalachite hay Greenmetil 0,1 g/m3 trong 3-4 ngày hoặc dùng Formalin 25 g/m3 trong 8 ngày liên tục (Lưu ý: Xanh malachite (malachite green) la thuoc thu y thuy san da duoc bo thuy san cam su dung trong san xuat kinh doanh thuy san theo quyet dinh 07/2005/QD-BTS ngay 24/02/2005).

- Bệnh sán lá: Cá bị bệnh có màu đen, đầu to, đuôi nhỏ, mang bị đỏ, cá bơi chậm chạp dựng đứng quanh thành ao. Bệnh do vi khuẩn Dactylogyrus gây nên. Điều trị bằng cách tắm cá trong nước muối 3% trong 3-5 phút.

2.6. Thu hoạch

Sau 2-3 tháng nuôi, cá đạt kích cỡ 150-250g/con có thể tiến hành thu tỉa những cá lớn. Khoảng 15 ngày sau, có thể tiến hành thu đợt 2. Cứ tiếp tục như vậy khi thu hết cá trong ao.

Ngày đăng: 26/09/2019 Tác giả: VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 1 - Số lần được xem: 121

CSDL Nông nghiệp


ĐƠN VỊ THUỘC CƠ SỞ


Liên kết website