Kỹ thuật nuôi thương phẩm cá Lăng chấm trong ao


Cá lăng chấm là loài cá có giá trị kinh tế cao, được nuôi chủ yếu trên sông. Vùng, nước sâu của suối, hồ và sông lớn nhiều phù sa, nước chảy chậm. Cá lăng chấm rất dữ bởi chúng ăn rất nhiều loại thức ăn, ấu trùng, côn trùng, rễ cây, tôm cua… Hiện nay cá Lăng chấm đã được nuôi thương ở nhiều địa phương theo hướng thâm canh. Để giúp bà con tìm hiểu và áp dụng vào nuôi trồng, chúng tôi xin giới thiệu quy trình kỹ thuật nuôi cá lăng chấm thương phẩm trong ao như sau:

1. Ao nuôi

1.1. Điều kiện kỹ thuật ao nuôi

Diện tích ao nuôi, 2000 – 4000m2, độ sâu nước 1,2 – 1,5m, độ sâu bùn đáy 0,2 – 0,3m. Bờ ao có thể là bờ đất hoặc được xây kè kiên cố bằng gạch hoặc bê tông. Ao có cống cấp và cống thoát chủ động.

Vị trí xây dựng ao: Ao được xây dựng tại những nơi có nguồn nước cấp chủ động, tốt nhất là gần các hồ chứa thủy nông có nguồn nước chảy qua quanh năm thuận tiện cho việc thay nước.

1.2. Chuẩn bị ao nuôi

Tát cạn ao, dùng vôi bột tẩy ao với lượng 7-10kg/100m2  ao. Phơi đáy ao 2 - 3 ngày sau  Điều kiện môi trường trong ao nuôi phải đạt các thông số kỹ thuật sau:

Bảng 1. Điều kiện môi trường ao nuôi:

Thông số

Nhiệt độ 0C

pH

DO

mg/l

NH4

mg/l

PO4

mg/l

COD

mg/l

BOD

mg/l

Độ kiềm

mg/l

H2S

mg/l

NO2

mg/l

Khoảng tiêu chuẩn

22-28

7-8

>5

<0,5

<0,25

<10

<5

50-150

0,0

<0,25

 

 

2. Mùa vụ và mật độ thả giống

2.1. Tiêu chuẩn cá giống

Cá giống khỏe mạnh, không bị bệnh tật, không bị dị hình, cá có màu ghi sẫm. Khối lượng cá giống trung bình khoảng 10 - 20g/con.

2.2. Mùa vụ thả

  • Với cá giống lưu từ năm trước, phải thả giống nuôi vào tháng 3 – 4
  • Với cá giống sản xuất trong năm, phải thả giống nuôi vào tháng 9 – 10.

2.3. Mật độ thả

Mật độ thả cá Lăng là 0,9 – 1,0 con/m2. Trong ao chỉ nuôi ghép với cá Mè trắng và cá Mè hoa để làm sạch nước với mật độ 1.000-1.500 con/ha với cỡ giống trung bình 300g/con.

3. Quản lý, chăm sóc

3.1. Cho cá ăn

  • Loại thức ăn

Thức ăn cho cá Lăng chấm thương phẩm kết hợp giữa thức ăn chế biến và thức ăn tươi sống với tỷ lệ về khối lương là 1/1.

Thức ăn chế biến của cá Lăng chấm được phối trộn từ các nguyên liệu như bột cá, bột đậu tương, cám gạo, dầu cá, premix như tại bảng 2.

Bảng 2. Công thức thức ăn chế biến nuôi cá Lăng chấm

Số thứ tự

Thành phần nguyên liệu

Tỷ lệ (%)

1

Bột cá

55,6

2

Đỗ tương

28,8

3

Bột mì 

7,1

4

Cám gạo

5

5

Dầu cá

1,5

6

Vi lượng Vitamin

2

  • Cách cho cá ăn

Mỗi ngày cho cá ăn 2 lần vào 8h và 16h. Buổi sáng cho cá ăn thức ăn tươi sống, buổi chiều cho cá ăn thức ăn viên chế biến. Tỷ lệ khối lượng giữa thức ăn chế biến và thức ăn tươi sống là 1/1.

  • Lượng thức ăn

Lượng thức ăn hàng ngày tính theo khối lượng cá dự kiến có trong ao được quy định trong bảng 3.

 

Bảng 3. Lượng thức ăn hàng ngày cho cá.

Khối lượng trung bình của cá trong ao (g/con)

Lượng thức ăn

(tính bằng % khối lượng cá trong ao)

20 – 150

4,0 – 5,0

150 – 300

3,5 – 4,0

300 – 600

3,0 – 3,5%

> 600g

2,5 – 3,0

Trong thời gian mùa đông và đầu mùa xuân giảm lượng thức ăn còn khoảng 40 – 70% so với bình thường do nhiệt độ nước xuống thấp cá ăn kém đi.

Trong ao nên đặt các sàng để kiểm tra thức ăn. Cứ 1000m2 đặt 2 sàng. Sàng có diện tích 1m2 được đặt cách đáy ao 10 – 20 cm.

3.2. Quản lý ao

Trong ao lắp máy phun mưa nhân tạo hoặc máy quạt nước với mức công suất 0,75kw/1000m2 phòng trường hợp cá nổi đầu do lâu ngày không thay được nước hoặc do thời tiết thay đổi bất thường.

Thường xuyên cho nước chảy qua ao nuôi. Trong trường hợp không có nước chảy qua thì dùng máy bơm có công suất 1,5kw bơm nước liên tục 8 – 16h/ngày vào ao nuôi (cho 6000 – 7000m2 ao nuôi).

Buổi sáng hàng ngày phải kiểm tra quan sát để phát hiện và xử lý kịp thời các hiện tượng như cá nổi đầu do ngạt thì phải cấp thêm nước mới, cho chạy máy phun mưa hoặc máy quạt nước đến khi toàn bộ cá bơi bình thường.

Trong trường hợp độ sâu ao dưới mức quy định, phải kiểm tra bờ, cống tìm chỗ rò rỉ để xử lý rồi cấp thêm nước vào ao cho đạt độ sâu quy định.

Nếu thấy thức ăn vẫn còn trong sàn cho cá ăn, phải giảm lượng thức ăn cho phù hợp. Thường xuyên dọn cỏ, vớt bèo trong ao. Bờ ao bị sụt lở, đăng cống hư hỏng phải tu sửa kịp thời (đặc biệt là trong thời kỳ mưa lũ).

 

3.4. Phòng và trị bệnh

Thường xuyên treo túi vôi bột cạnh sàn cho ăn với lượng 2 – 4kg/túi/sàn.

Cho cá ăn đủ thành phần dinh dưỡng, bổ sung thêm vitamin và khoáng vào thức ăn để tăng sức đề kháng của cá. Thay nước thường xuyên trong ao để đảm bảo chất lượng nước trong ao tốt.

Khi cá có dấu hiệu ăn ít hoặc bỏ ăn, chết rải rác trong ao thì cần phân tích mẫu cá để có biện pháp trị bệnh kịp thời.

4. Thu hoạch

Sau khi nuôi 20-24 tháng, cá đạt kích cỡ 3-3,5 kg/con tiến hành thu hoạch. Thu hoạch vào tối hoặc sáng sớm, cá được đưa vào các lồ có chứa nước sạch sau 20-30 phút cần thay ngay nước mới để đảm bảo chất lượng cá thương phầm do cá thải phân, chất bài tiết dễ gây bẩn nước. Nếu vận chuyển cá trong mùa hè cần hạ nhiệt độ nước bằng việc sử dụng đá sạch.

Ngày đăng: 03/10/2019 Tác giả: VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 1 - Số lần được xem: 94

CSDL Nông nghiệp


ĐƠN VỊ THUỘC CƠ SỞ


Liên kết website