Bổ sung, hoàn thiện chính sách liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm nông sản, giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững


Nền nông nghiệp Việt Nam sau  hơn 30 năm đổi mới đã đạt được những thành tích vượt bậc cả về sản lượng và giá trị thương mại. Từ một nước thiếu lương thực, đến nay Việt Nam không chỉ bảo đảm vững chắc an ninh lương thực trong nước mà còn trở thành cường quốc xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới với kim ngạch xuất khẩu duy trì trên 32 tỷ đô la mỗi năm và được đánh giá là ngành kinh tế trụ cột quốc gia, giúp cho kinh tế đất nước vượt qua các kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới và khu vực vào các năm 1998, 2008 và 2012.
Mặc dù vậy, nông nghiệp nước ta đang đứng trước các thách thức lớn như sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, chất lượng nông sản và vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm còn hạn chế. Hiện tượng sản xuất chạy theo “phong trào” khá phổ biến dẫn đến tình trạng “được mùa mất giá” thường xuyên xẩy ra ở nhiều ngành hàng, nhiều địa phương trong cả nước; việc áp dụng cơ giới hóa, khoa học công nghệ trong sản xuất gặp khó khăn; công nghiệp chế biến, bảo quản và thương mại chậm phát triển; đa số nông sản xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô nên giá trị thấp. Bên cạnh đó, hiện nay nhiều mặt hàng nông sản của Việt Nam đang gặp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ từ sản phẩm cùng loại của các nước trên thế giới. Điều này đòi hỏi nền nông nghiệp nước ta phải có sự đổi mới về phương thức tổ chức sản xuất. Đó là tăng tính hợp tác, liên kết từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ nông sản; hình thành nêncác chuỗi giá trị nông sản khép kín, trong đó có mối liên hệ chặt chẽ giữa sản xuất với thị trường.
Chính sách liên kết trong sản xuất, tiêu thụ nông sản được Chính phủ ban hành từ năm 2002, cụ thể là Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng. Đến năm 2013, Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất, gắn sản xuất với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn. Từ chính sách này đã làm cho việc tổ chức liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, tổ hợp tác và doanh nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt hơn so với sản xuất truyền thống. Ở Đồng bằng sông Cửu Long, mỗi hecta lúa tham gia trong cánh đồng lớn có thể giảm chi phí sản xuất từ 10% đến 15% và giá trị sản lượng có thể tăng 20% - 25%, thu lời thêm từ 2,2 đến 7,5 triệu đồng/ha. Ở miền Bắc, các mô hình cánh đồng lớn mang lại giá trị sản lượng tăng trung bình từ 17% đến 25% tùy theo từng địa phương (số liệu khảo sát của Viện Chiến lược Chính sách Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Tham gia cánh đồng lớn, người sản xuất được ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm ổn định, được hỗ trợ kỹ thuật và trong một số mô hình còn được doanh nghiệp liên kết cung ứng vật tư đầu vào không tính lãi. Các doanh nghiệp đã có được vùng cung cấp nguyên liệu ổn định với chất lượng bảo đảm và tiết kiệm chi phí thu mua, vận chuyển. 
Tại tỉnh Vĩnh Phúc, giai đoạn 2013 - 2018 toàn tỉnh xây dựng được 03 mô hình liên kết sản xuất cánh đồng lớn, cụ thể: Vụ Xuân năm 2014 xây dựng mô hình 50 ha giống lúa Thiên ưu 8 tại xã Hợp Thịnh, huyện Tam Dương và mô hình 20 ha giống lúa Khang dân đột biến tại xã Tề Lỗ, huyện Yên Lạc; vụ Xuân 2018 xây dựng mô hình 100 ha giống lúa Thiên ưu 8 tại xã Ngũ Kiên, huyện Vĩnh Tường. Đồng thời, Sở Nông nghiệp & PTNT Vĩnh Phúc đã tích cực hỗ trợ các địa phương, các cơ sở sản xuất, kinh doanh xây dựng và hình thành nên các chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản theo từng chủng loại sản phẩm, gồm: 12 chuỗi sản xuất, tiêu thụ rau an toàn; 01 chuỗi liên kết chăn nuôi, giết mổ, tiêu thụ thịt lợn an toàn của Công ty TNHH MTV sản xuất và Thương mại Phát Đạt (xã Cao Minh, thành phố Phúc Yên); 01 chuỗi chế biến giò chả của Công ty TNHH Thắng Hải An (phường Phúc Thắng, thành phố Phúc Yên). Qua những mô hình này, người nông dân đã nhận thức rõ vai trò quan trọng của các hợp tác xã, doanh nghiệp trong việc thúc đẩy sản xuất hàng hóa.


 HTX rau an toàn Vĩnh Phúc liên kết với nông dân thôn số 8, xã Kim Long, 
huyện Tam Dương xây dựng mô hình sản xuất, tiêu thụ mướp hương 
đem lại thu nhập ổn định cho cả người sản xuất và HTX

Tuy nhiên, qua 5 năm triển khai thực hiện Quyết định 62/2013/QĐ-TTg, ngoài những kết quả đạt được thì Quyết định này còn có nhiều hạn chế, cụ thể là:Các quy định của Quyết định 62/2013/QĐ-TTg tập trung chủ yếu cho trồng trọt, đặc biệt là cây lúa nên các lĩnh vực sản xuất khác như chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp không thực hiện được; ngay trong lĩnh vực trồng trọt, các quy định nặng về thể chế hóa mô hình cánh đồng lớn về lúa gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long. Trong khi những quy định về chính sách hỗ trợ phát triển liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, vùng nguyên liệu, vùng sản xuất hàng hóa tập trung chưa nhiều; chế tài xử lý các tranh chấp hợp đồng liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm không được quy định cụ thể nên không xử lý được các tranh chấp hợp đồng dẫn đến rủi ro cho cả doanh nghiệp và nông dân; một số hướng dẫn để thực hiện Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg phức tạp và khó thực hiện đối với các địa phương.
Trước những tồn tại, hạn chế nêu trên, ngày 05/7/2018 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 98/2018/NĐ-CP về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất nông nghiệp (gọi tắt là Nghị định 98) thay thế Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg. Nghị định 98 được ban hành nhằm giải quyết vấn đề cấp bách hiện nay đối với sản xuất nông nghiệp là tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và quản lý chất lượng, an toàn dịch bệnh, bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu quả sản xuất. Tạo điều kiện để phát triển sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ nông sản hàng hóa cho nông dân. Tập trung hỗ trợ vào khâu yếu nhất trong chuỗi liên kết là chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
Nghị định 98 tập trung phát triển liên kết sản xuất ở cả 5 lĩnh vực lớn của ngành nông nghiệp là trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp và diêm nghiệp. Xây dựng các chuỗi kết nối từ cung ứng vật tư đầu vào, tổ chức sản xuất, thu hoạch, sơ chế, chế biến cho tới khâu cuối cùng là tổ chức tiêu thụ nông sản. Nghị định 98 cũng quy định nhiều chính sách hỗ trợ liên kết sản xuất như: tư vấn xây dựng dự án liên kết; đầu tư hạ tầng, đào tạo lao động, ứng dụng khoa học công nghệ. Cụ thể:
- Hỗ trợ chi phí tư vấn xây dựng liên kết: Nghị định nêu rõ, chủ trì liên kết được ngân sách nhà nước hỗ trợ 100% chi phí tư vấn xây dựng liên kết, tối đa không quá 300 triệu đồng, bao gồm tư vấn, nghiên cứu để xây dựng hợp đồng liên kết, dự án liên kết, phương án, kế hoạch sản xuất kinh doanh, phát triển thị trường.
- Hỗ trợ hạ tầng phục vụ liên kết: Dự án liên kết được ngân sách nhà nước hỗ trợ 30% vốn đầu tư máy móc trang thiết bị; xây dựng các công trình hạ tầng phục vụ liên kết bao gồm: Nhà xưởng, bến bãi, kho tàng phục vụ sản xuất, sơ chế, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Tổng mức hỗ trợ không quá 10 tỷ đồng.
- Hỗ trợ khuyến nông, đào tạo, tập huấn: Các bên tham gia liên kết được ngân sách nhà nước hỗ trợ để xây dựng mô hình khuyến nông; đào tạo nghề, tập huấn kỹ thuật, nâng cao nghiệp vụ quản lý, kỹ thuật sản xuất, năng lực quản lý hợp đồng, quản lý chuỗi và phát triển thị trường; hỗ trợ giống, vật tư, bao bì, nhãn mác sản phẩm tối đa không quá 3 vụ hoặc 3 chu kỳ sản xuất, khai thác sản phẩm thông qua các dịch vụ tập trung của hợp tác xã; ngân sách hỗ trợ tối đa 40% chi phí chuyển giao, ứng dụng khoa học kỹ thuật mới, áp dụng quy trình kỹ thuật và quản lý chất lượng đồng bộ theo chuỗi.
Cùng với Nghị định 98/2018/NĐ-CP, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 461/2018/QĐ-TTg về phát triển 15.000 hợp tác xã, liên hiệp HTX nông nghiệp hoạt động có hiệu quả đến năm 2020. Thông qua hợp tác xã, người nông dân mới có thể gặp gỡ và đàm phán với doanh nghiệp trong hợp tác làm ăn; cũng chỉ có thông qua hợp tác xã thì doanh nghiệp mới tạo được vùng nguyên liệu đủ lớn, chất lượng, sản lượng ổn định và giảm chi phí quản lý trong quá trình sản xuất. Vì vậy, hợp tác xã chính là cầu nối giữa cung - cầu nông sản của xã hội.
Để áp dụng những chính sách trên vào thực tiễn sản xuất của tỉnh ta. UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã giao cho Sở Nông nghiệp & PTNT xây dựng dự thảo Nghị quyết về chính sách khuyến khích liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản trên địa bàn tỉnh để trình HĐND tỉnh ban hành vào kỳ họp HĐND tỉnh cuối năm 2019. Tin rằng, khi những cơ chế, chính sách hỗ trợ liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản của tỉnh được HĐND, UBND tỉnh ban hành sẽ là động lực và giải pháp quan trọng để ngành Nông nghiệp của tỉnh ta phát triển ổn định, bền vững./. 

 

Ngày đăng: 27/03/2019 Tác giả: Nguyễn Cường - Số lần được xem: 89

Tin sản xuất


ĐƠN VỊ THUỘC CƠ SỞ


Liên kết website