Một số lưu ý trong công tác thả cá giống mới và một số bệnh thường gặp giai đoạn chuyển mùa


Vĩnh Phúc là địa phương có tiềm năng phát triển chăn nuôi thủy sản với diện tích nuôi trồng đạt trên 7.000 ha. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có khoảng 10.000 hộ nuôi trồng thủy sản, trong đó có hơn 800 hộ tham gia sản xuất cá giống. Trong những năm qua, nhờ áp dụng những hình thức chăn nuôi mới: Từ hình thức quảng canh, quảng canh cải tiến, nuôi ghép với đối tượng nuôi là cá truyền thống, đến nay đã chuyển sang nuôi trồng thủy sản theo hình thức bán thâm canh và thâm canh; với đa dạng những giống cá khác nhau cho năng suất và giá trị kinh tế cao, trong đó phải kể đến: Cá Rô phi đơn tính (Đường Nghiệp) và cá Chép lai được đưa vào nuôi thâm canh tại Vĩnh Phúc từ năm 2011.
Kết quả thực tế của người dân về chăn nuôi Cá Rô phi đơn tính (Đường Nghiệp) và cá Chép lai trong những năm qua cho thấy, đây là 2 loài cá giống mới có tốc độ tăng trưởng nhanh, kích cỡ lớn, cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao: sau 5 - 6 tháng trọng lượng bình quân đạt 600 - 800g/con, năng suất ≥ 12 tấn/ha, lợi nhuận thu được có thể đạt trên 100 triệu đồng/ha. Đặc biệt, chúng có khả năng chống chịu tốt với điều kiện mùa đông nên có thể tiến hành nuôi khép kín 2 vụ/năm. Tuy nhiên, để quá trình nuôi thành công và cho hiệu quả kinh tế, người nuôi cần đặc biệt lưu ý đến công tác chuẩn bị ao, hồ trước khi thả giống và thực hiện phòng trị một số bệnh thường gặp trong giai đoạn chuyển mùa như sau:
1. Công tác chuẩn bị ao nuôi
- Ao nuôi trước khi thả cá cần được tẩy dọn kỹ để diệt địch hại và phòng trừ dịch bệnh. Ao được tháo hết nước, tu sửa lại bờ, vét bớt bùn đáy, trang đáy bằng phẳng sau đó tẩy vôi với lượng từ 7 - 10kg/100m2 mặt ao hoặc 10 - 15kg/100m2 mặt ao đối với ao nhiễm phèn có độ chua lớn. Vôi cần rải khắp đáy ao, tập trung nhiều vào khu vực trũng đọng nước, hay cho ăn hoặc có nhiều chất thải.
 
 
Ông Đàm Văn Sơn, thôn Cẩm Nha, xã Đại Tự, huyện Yên Lạc 
tiến hành vệ sinh ao nuôi trước khi thả cá giống
- Nếu ao không thể làm cạn do có mạch ngầm hoặc rò rỉ, để mực nước trong ao còn 15 - 20 cm rồi xử lý Saponine với liều lượng 10 - 15 kg/1000m2 để tiêu diệt và loại bỏ cá tạp (nhất là cá rô phi), tránh tình trạng cạnh tranh thức ăn và môi trường sống khiến cá nuôi chậm lớn, lãng phí thức ăn.
- Đối với những ao có nền đáy kém dinh dưỡng, khó lên màu nước có thể bón phân gây để gây màu nước, tạo nguồn thức ăn tự nhiên giúp nâng cao tỉ lệ sống, cá tăng trưởng nhanh và phát triển đồng đều: Dùng phân chuồng đã ủ hoai với liều lượng 25 - 30 kg/100m2  kết hợp với phân xanh từ  40 - 50kg/100m2 ao.
- Cấp nước vào ao nuôi qua túi lọc để loại bỏ rác thải, địch hại và cá tạp. Khi nước trong ao đạt mức 1,2 - 1,5 m, ngâm ao từ 5 - 7 ngày đến khi nước có màu xanh nõn chuối hoặc vỏ đỗ ta tiến hành thả giống. Trước khi thả, xử lý ao nuôi bằng Iodine với liều lượng 1lít/2.000m3 nước để khử trùng và phòng trị bệnh cho cá.
2. Chọn giống và thả giống
- Nguồn gốc:Giống cá thả nuôi phải có nguồn gốc rõ ràng và được cung cấp bởi những cơ sở có uy tín.
 
Kích cỡ thả nuôi từ 4 - 6cm/con (500 - 600con/kg) đối với cá rô phi đơn tính 
Đường Nghiệp và 6-8 cm/con đối với cá chép
 
- Chất lượng giống: Cá giống đem thả phải khoẻ mạnh, không dị hình, bơi lội hoạt bát, màu sắc cơ thể sáng tươi, không bị sây xát, không mất nhớt.
- Kích cỡ: Cá giống thả nuôi phải đồng đều, không nên thả các giống quá nhỏ vì như thế tỉ lệ hao hụt sẽ lớn, cỡ giống thả càng lớn càng nâng cao được năng suất cá nuôi. Thông thường kích cỡ thả nuôi từ 4 - 6cm/con (500 - 600con/kg) đối với cá rô phi đơn tính Đường Nghiệp và 6 - 8 cm/con đối với cá chép.
- Mật độ: Mật độ thả nuôi 1- 1,5con/m2 để hạn chế cá nổi đầu, giúp cá sinh trưởng nhanh và giảm thấp hệ số tiêu tốn thức ăn.
- Thành phần giống thả: Trong ao nuôi thâm canh tỷ lệ cá giống Rô phi thả nuôi chiếm 60 - 80% tổng số cá trong ao. Ngoài ra để tận dụng thức ăn và không gian sống trong ao có thể thả ghép thêm từ 5 - 10% cá mè, 5 - 15% cá chép, 5 - 15% cá trắm. Tuy nhiên, cá giống thả ghép cũng phải đạt các tiêu chuẩn kỹ thuật về chất lượng, mật độ và kích cỡ. Các loài cá thả ghép cần có kích cỡ lớn hơn cá rô phi và thả sau cá rô phi khoảng 01 tháng để đảm bảo tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá rô phi.
- Thời điểm thả giống: Cá giống được thả vào sáng sớm hoặc chiều mát với nhiệt độ thích hợp từ 25 - 300C. Tránh những lúc nắng gắt hoặc mưa to để cá không bị sốc và hao hụt. Trước khi thả cá có thể dùng một số lượng nhỏ cá (thả trong giai) để thử độ an toàn của nước, nếu sau 30 phút cá vẫn hoạt động bình thường mới tiến hành thả cá. 
- Mùa vụ thả giống: Có thể thả nuôi khép kín 2 vụ/năm, vụ chính thả giống từ tháng 3 đến tháng 5, vụ đông thả vào tháng 9 đến tháng 10.
- Kỹ thuật thả giống: Cá trước khi thả được tắm qua nước muối ăn (NaCl) nồng độ 3% hoặc Iodine 2ppm (2ml/m3 nước) trong vòng 5-10 phút để phòng bệnh và giúp các vết thương do đánh bắt, vận chuyển mau lành.
 
Khi thả cá chú ý cân bằng các yếu tố môi trường để tránh gây sốc cho cá bằng cách: Cho nước ao từ từ vào túi hoặc chậu chứa cá rồi để khoảng 10 - 15 phút, sau đó từ từ mở túi ra hoặc nghiêng chậu cho cá ra ao.
3. Phòng và trị một số bệnh thường gặp trong giai đoạn chuyển mùa
3.1. Bệnh xuất huyết do virus ở cá chép (bệnh virus mùa xuân ở cá chép hoặc bệnh viêm bóng hơi ở cá chép)
a. Tác nhân gây bệnh:Rhabdovirus carpio.
b. Dấu hiệu bệnh lý:
- Dấu hiệu bên ngoài: Cá mất thăng bằng, bơi không định hướng. Mang, da và mắt cá bị xuất huyết. Da cá có màu tối, mắt lồi nhẹ.
- Dấu hiệu bên trong: Bụng chướng to, xoang bụng và nội tạng xuất huyết. Bóng hơi xuất huyết và teo dần một bên.
c. Phân bố và lan truyền:
- Bệnh chủ yếu xảy ra ở cá chép.
- Mùa vụ xuất hiện: Mùa xuân và mùa thu (nhiệt độ thấp hơn 20oC).
- Bệnh gây chết hơn 90% trong quần đàn cá.
d. Phòng bệnh:
- Chọn mùa vụ nuôi cá có nhiệt độ cao hơn 20oC.
- Mùa xuất hiện bệnh cho cá ăn liên tục Vitamin C.
-Sát trùng nguồn nước định kỳ 15 ngày/lần bằng Iodine 90% với liều 1lít/4.000 - 5.000m3 nước hoặc BKC 80% theo liều 1lít/2.000m3 nước.
Quản lý tốt chất lượng nước trong ao nuôi: Dùng Zeo vi sinh hoặc chế phẩm sinh học định kỳ 15 ngày/lần.
 
Chủ động các biện pháp phòng bệnh cho cá, giữ cho đàn cá luôn khỏe mạnh
là yếu tố quan trọng trong chăn nuôi thủy sản
3.2. Bệnh viêm ruột (đốm đỏ) do vi khuẩn
a. Dấu hiệu bệnh lý:
- Dấu hiệu bên ngoài: Cá kém ăn hoặc bỏ ăn, nổi lờ đờ trên tầng mặt. Hậu môn viêm đỏ, lồi ra ngoài. Các đốm xuất huyết màu đỏ xuất hiện trên thân, các gốc vây. Mắt lồi, xuất huyết và bụng chướng to.
- Dấu hiệu bên trong: Xoang bụng xuất huyết, mật màu sắc đen sẫm. Ruột chứa đầy hơi và hoại tử. Xoang bụng chứa nhiều dịch nhờn mùi hôi thối.
b. Tác nhân gây bệnh:
Vi khuẩn Aeromonas bao gồm A.hydrophyla, A.caviae và A.sobria.
c. Phân bố và lan truyền:
- Các loài cá nuôi lồng, bè và nuôi ao nước ngọt thường gặp bệnh đốm đỏ như Cá Trắm cỏ, Cá Chép, cá Rô Phi, Cá Trôi, Cá Tra, Cá Trê, Cá Nheo,...
- Cá bị bệnh thường có tỷ lệ chết từ 30-70%, riêng ở giai đoạn cá giống tỷ lệ chết có thể đạt 100%.
- Bệnh đốm đỏ ở cá thường tập trung vào mùa xuân và mùa thu ở miền Bắc và mùa mưa ở miền Nam.
d. Phòng và trị bệnh:
* Phòng bệnh:
- Quản lý môi trường ao nuôi tốt và ổn định bằng cách dùng Zeo vi sinh hoặc chế phẩm sinh học định kỳ 15 ngày/lần.
- Khử trùng nguồn nước ao nuôi, định kỳ 15ngày/lần bằng Iodine 90% với liều 1lít/4.000 - 5.000m3 nước hoặc.
- Bổ sung Vitamin C, Vitamin tổng hợp và men tiêu hoá vào thức ăn hàng ngày để cá luôn khoẻ mạnh, tăng cường sức đề kháng.
* Trị bệnh:
 Dùng Gentamycin cho cá ăn liên tục trong 5-7 ngày với liều lượng 5-7 g/100kg cá.
 Bổ sung Vitamin C, Vitamin tổng hợp và men tiêu hoá vào thức ăn hàng ngày để tăng cường sức đề kháng và tăng cuờng tiêu hoá cho cá.
3.3.Bệnh nhiễm khuẩn do Streptococcus ở cá
a. Dấu hiệu bệnh lý.
- Dấu hiệu bên ngoài: Cá yếu bơi quay tròn không định hướng và cơ thể chuyển màu tối. Mắt bị lồi và mờ đục. Nắp mang và các hốc vây bị xuất huyết. Xuất hiện các mụn đỏ và vết loét trên bề mặt cơ thể. Sự có mặt của dịch chất lỏng trong bụng của cá là dấu hiệu của dịch bệnh ở thời kỳ cấp tính. Dịch này có thể được nhìn thấy chảy ra từ hậu môn của cá.
- Dấu hiệu bên trong: Gan, thận, lách bị hoại tử thành những đốm màu nhạt.
b. Tác nhân gây bệnh:
Tác nhân gây bệnh chủ yếu cho là loài Streptococcus agalactiae và loài Streptococcus iniae cũng gây chết nhưng tỷ lệ chết thấp hơn.
c. Phân bố và lan truyền:
- Bệnh nhiễm khuẩn do streptococcus gây ra ở nhiều loài cá nước ngọt, đặc biệt khi nuôi cá rô phi ở mật độ cao.
- Mùa vụ thường xuất hiện bệnh: Mùa hè, mùa xuân, mùa thu ở miền Bắc và mùa mưa ở miền Nam.
d. Phòng và trị bệnh:
- Phòng bệnh:
+ Quản lý môi trường ao nuôi tốt và ổn định bằng cách dùng Zeo vi sinh hoặc chế phẩm sinh học định kỳ 15 ngày/lần.
+ Sử dụng máy quạt nước hoặc sục khí để giảm lượng khí độc (NH3, H2S) và tăng lượng Oxy hoà tan cho ao nuôi.
+ Khử trùng nguồn nước ao nuôi, định ký 15ngày/lần bằng Iodine 90% với liều 1lít/4.000 - 5.000m3nước.
+ Bổ sung Vitamin C, khoáng chất và men tiêu hoá vào thức ăn hàng ngày để cá luôn khoẻ mạnh, tăng cường sức đề kháng với bệnh.
- Trị bệnh:
+ Diệt mầm bệnh trong môi trường nước bằng Iodine 90% với liều 1lít/4.000 - 5.000m3 nước hoặc BKC 80% theo liều 1lít/2.000m3nước.
+ Cho ăn thuốc kháng sinh điều trị liên tục 3-5 ngày: Dùng amoxcilin kết hợp sulphamid với liều lượng 5-7 g/100 kg cá/ngày liên tục 5-7 ngày để điều trị.
- Bổ sung các khoáng chất vi lượng và men tiêu hoá vào thức ăn để tăng sức đề kháng cho cá./.

Ngày đăng: 17/05/2018 Tác giả: Trần Hanh - Số lần được xem: 3373

Công tác thu gom, xử lý bao gói thuốc BVTV sau sử dụng trên địa bàn tỉnh năm 2021 Hướng dẫn thu gom, vận chuyển và xử lý bao gói thuốc BVTV sau sử dụng Nâng cao nhận thức của người dân về sử dụng nước sạch trên địa bàn huyện Yên Lạc Kỹ thuật nuôi trồng nấm Linh chi đỏ đạt năng suất cao Đảng bộ xã Đồng Ích làm theo lời Bác Học tập và làm theo Bác ngày càng thấm sâu, lan tỏa
Xem tất cả »