Một số giải pháp tăng cường công tác trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng


Tỉnh Vĩnh Phúc thuộc vùng trung tâm Bắc bộ, có 33.051,5 ha rừng và đất lâm nghiệp, phân chia thành: Rừng đặc dụng 15.213,53ha; rừng phòng hộ 4.107,5 ha; rừng sản xuất 13.730,47 ha là tương đối hợp lý. Tuy nhiên, đất quy hoạch cho lâm nghiệp địa hình đồi núi cao, đất rừng sau khai phá, do canh tác không cải tạo bảo vệ đất, đất bị xói mòn mất tầng mặt, thành phần dinh dưỡng trong đất nghèo xấu, hệ số khó khăn cao. Những diện tích thuận lợi thì đã và đang chuyển cho mục đích khác nên phát triển lâm nghiệp (nhất là phát triển rừng sản xuất) gặp rất nhiều khó khăn. Quản lý nhà nước về đất đai và quản lý nhà nước về lâm nghiệp phối hợp chưa chặt chẽ (chủ đất và chủ rừng khác nhau). Chất lượng rừng Vĩnh Phúc thấp hơn so với các tỉnh lân cận. Rừng tự nhiên phần lớn là rừng thứ sinh nghèo kiệt, trước đây đã bị chặt phá nhiều lần, hiện đang phục hồi dần nhưng chưa đạt tiêu chuẩn rừng tự nhiên và tiêu chí phòng hộ. Trữ lượng rừng rất thấp, chưa hình thành tầng tán, phân bố không đều; độ tàn che thấp; loài cây gỗ lớn rất ít, chủ yếu là các loài cây gỗ nhỡ và cây bụi, giang, nứa mới phục hồi.Rừng trồng phòng hộ với phương thức hỗn giao giữa các loài cây bản địa với cây phù trợ do nhiều yếu tố ngoại cảnh tác động đến nay loài cây còn lại chủ yếu là cây phù trợ (Keo + Bạch đàn trồng bổ sung), cây sinh trưởng, phát triển rất chậm, chất lượng rừng không cao, triển vọng để cây khép tán trở thành rừng phòng hộ ổn định lâu dài là rất khó.Rừng sản xuất của hộ gia đình, cá nhân chưa thực hiện tốt biện pháp kỹ thuật lâm sinh trồng rừng mới, vẫn là trồng quảng canh, trồng thuần loài, chủ yếu được trồng bằng cây con gieo giống từ hạt, chưa qua quá trình tuyển chọn, rừng chồi năng suất chất lượng thấp. Lực lượng  lao động chủ yếu cho trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng đa số làm công việc khác, phân tán tại nhiều địa phương trong và ngoài tỉnh để có thu nhập ngay, giải quyết cuộc sống trước mắt, chưa thiết tha với hoạt động sản xuất lâm nghiệp. Mặt khác, chương trình hỗ trợ đầu tư bảo vệ và phát triển rừng bền vững với mức hỗ trợ thấp, chỉ chiếm khoảng 50% suất đầu tư cho trồng rừng phòng hộ và 15-20% suất đầu tư trồng rừng sản xuất. Mức kinh phí cho khoán bảo vệ rừng phòng hộ và rừng tự nhiên 200.000 đồng/ha/năm quá thấp so với thực tế, công sức và trách nhiệm phải chịu. Chủ rừng phòng hộ không quan tâm đầy đủ đến đến việc chăm sóc bảo vệ cây trồng chính, thậm chí loại bỏ cây trồng chính để trồng cây khác có lợi cho họ. Nguồn vốn vay chủ rừng chưa tiếp cận được, nguồn vốn hợp pháp khác chưa khai thác được, trong khi nguồn lực của chủ rừng là hộ gia đình cá nhân còn hạn chế.
Để khắc phục một số khó khăn, bất cập nói trên, công tác trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng trong thời gian tới cần tập trung thực hiện có hiệu quả một số giải pháp sau:
Tiếp tục quán triệt, cụ thể hóa các văn bản của Chính phủ, Bộ NN&PTNT, UBND tỉnh về bảo vệ rừng, phát triển rừng; đảm bảo cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đều được tham gia với phương châm chủ rừng là chính, nhà nước khuyến khích hỗ trợ, từng bước xã hội hóa công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về rừng. Biên soạn các tài liệu về kỹ thuật trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng để phát thanh qua hệ thống truyền thanh của các địa phương phát tới hộ gia đình, cá nhân tham gia lâm nghiệp, hướng tới rừng sản xuất phải được thâm canh cao, tạo thành vùng sản xuất với năng suất cao, chất lượng tốt. Rừng phòng hộ phải được nâng cấp để đạt được tiêu chí phòng hộ.
Gắn trách nhiệm của chủ đất và chủ rừng theo quy định tại Luật đất đai, Luật Bảo vệ và phát triển rừng và các văn bản khác có liên quan.
Tăng cường đôn đốc, hướng dẫn các dự án cơ sở, các chủ rừng tập trung các nguồn lực để hoàn thành chỉ tiêu trồng rừng sản xuất tập trung, trồng cây phân tán trong khung thời vụ tốt nhất; các chỉ tiêu về bảo vệ rừng, chăm sóc rừng, khoanh nuôi tái sinh phải được thực hiện đúng quy trình kỹ thuật.
Chương trình giống cây trồng phải đ­ược quản lý thường xuyên, nguồn giống cung cấp từ các v­ườn giống cây đã đ­ược nhà nước cho phép sản xuất đảm bảo uy tín trên thị tr­ường. Sử dụng giống có chất lượng theo Quy chế quản lý giống cây trồng lâm nghiệp.
Đào tạo mới, đào tạo lại, tập huấn, nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực cho cán bộ quản lý và cán bộ kỹ thuật của các dự án cơ sở; thực hiện tốt việc hỗ trợ công tác đào tạo khuyến lâm cho hộ, nhóm hộ chủ chốt hoặc chủ các trang trại lâm nghiệp, tổ chức các lực lượng ở cơ sở để đảm bảo việc bảo vệ rừng.
Thực hiện trồng rừng mới trên đất có trạng thái thực bì Ia, Ib. Những diện tích rừng bị thiệt hại do nguyên nhân bất khả kháng, rừng sau khai thác phải tiến hành thanh lý và trồng lại rừng ngay. Với rừng trồng chất lượng thấp, mật độ cây thưa thớt tiến hành trồng bổ sung, trồng dặm kết hợp chăm sóc bón phân, bảo vệ.
Tổ chức đồng bộ, hoạt động lồng ghép các chương trình dự án hỗ trợ lâm nghiệp như: Trồng rừng sản xuất, nâng cấp rừng phòng hộ, trồng cây phân tán, phát triển lâm sản ngoài gỗ, xây dựng các công trình lâm sinh, quản lý đa dạng sinh học nhằm làm chuyển biến rõ nét công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Đề nghị Bộ Nông nghiệp & PTNT báo cáo Chính phủ tăng mức hỗ trợ đầu tư cho Bảo vệ và phát triển rừng. Những diện tích đã trồng rừng theo chương trình 327 và 661 nay chuyển sang rừng sản xuất, đề nghị được hỗ trợ trồng rừng chu kỳ tiếp theo.
 

Ngày đăng: 29/05/2013 Tác giả: Lê Văn Nhã - Nguồn: Chi Cục Kiểm lâm tỉnh - Số lần được xem: 2092

Tin tức

Hướng dẫn kỹ thuật trồng và chăm sóc nho hạt đen trong điều kiện khí hậu tỉnh Vĩnh Phúc Triển khai tháng hành động vì ATTP năm 2022 Quy trình an toàn sinh học cho phương thức nuôi chuồng hở để phòng chống bệnh dịch tả lợn châu phi Hiệu quả kinh tế từ mô hình chăn nuôi gia súc tập trung Nâng cao nhận thức của người dân về sử dụng nước sạch trên địa bàn huyện Lập Thạch
Xem tất cả »

ĐƠN VỊ THUỘC CƠ SỞ


Liên kết website