Báo cáo số 179/TK-NN, Báo cáo chính thức DT - NS - SL cây hàng năm vụ Đông xuân 200


TỔNG CỤC THỐNG KÊ

CỤC THỐNG KÊ VĨNH PHÚC

---------------------------------------

 

Số: 179/TK-NN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

------------------------------------------

 

Vĩnh Phúc, ngày 13 tháng  7 năm 2009

 

 

BÁO CÁO CHÍNH THỨC

DIỆN TÍCH - NĂNG SUẤT - SẢN LƯỢNG

CÂY HÀNG NĂM VỤ ĐÔNG XUÂN 2009

 

Thực hiện kế hoạch công tác thống kê nông, lâm nghiệp và Thuỷ sản của Tổng cục Thống Kê giao năm 2009 và công văn số 1301/UBND-KT2 ngày 16 tháng 4 năm 2009 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc “V/v điều tra NS – SL cây trồng vụ Đông xuân 2009 ”. Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc đã triển khai, thực hiện cuộc điều tra năng suất, sản lượng cây trồng vụ Đông xuân 2009 đến tất cả các huyện, thị, thành phố trong tỉnh. Từ kết quả điều tra thực thu tại hộ và báo cáo của các huyện, thị, thành phố đã được nghiệm thu. Cục Thống kê có một số đánh giá, nhận xét về tình hình chỉ đạo triển khai điều tra và kết quả điều tra vụ Đông xuân 2009 cụ thể như sau:

I. Tình hình chỉ đạo và triển khai điều tra:

Ngày 20 tháng 4 năm 2009 Cục Thống kê Vĩnh Phúc đã có công văn số 105/CTK-NN “V/v điều tra NS - SL cây hàng năm vụ Đông xuân 2009” và căn cứ phương án điều tra của Tổng Cục Thống kê đã ban hành, các huyện, thị, đã trực tiếp triển khai kế hoạch điều tra đến các xã, phường, thị trấn.

Việc triển khai và thực hiện ở các cấp đều đảm bảo đúng phương án đã quy định của Tổng Cục Thống kê. Trong quá trình triển khai, thực hiện. Cục Thống kê phối hợp với Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, UBND các huyện, thành phố, thị xã tiến hành đi thăm đồng đánh giá năng suất - sản lượng cây trồng từ khi lúa chắc xanh để có số liệu báo cáo ước tính năng suất, sản lượng.

Kết thúc thu hoạch vụ Đông xuân, các địa phương trong tỉnh đã tiến hành điều tra thực thu tại hộ, trong đó cây lúa điều tra 1.400 hộ, cây rau màu chủ yếu 1.350 hộ. Trong quá trình điều tra Cục Thống kê Vĩnh Phúc chỉ đạo các phòng Thống kê huyện, thành, thị thực hiện đúng phương án, giám sát, kiểm tra việc thực hiện phương án điều tra đến từng đơn vị cơ sở. Điều tra viên đến điều tra thực thu tại hộ, phỏng vấn trực tiếp và ghi kết quả sản xuất vào phiếu điều tra lúa và cây hàng năm khác, kết quả điều tra cho thấy đã phản ánh đúng thực tế năng suất, sản lượng các loại cây trồng. Kết quả phúc tra chênh lệch không đáng kể so với số liệu đã được điều tra và đảm bảo độ tin cậy.

II. Kết quả sản xuất:

1. Diện tích gieo trồng:

Kết thúc gieo trồng vụ Đông xuân 2009, tổng diện tích gieo trồng đạt 50.599,0 ha, giảm 25,6% so với cùng kỳ năm 2008 (giảm 17.383,7 ha). Nguyên nhân chủ yếu là do vụ Đông 2008-2009 có mưa lớn kéo dài làm ngập và mất trăng nhiều diện tích đã gieo trồng (20.072,2 ha rau màu ngập, mất trắng).

Diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt đạt 38.292,1 ha, giảm 19,5% so với cùng kỳ (-9.264,6 ha), trong đó: Diện tích gieo trồng lúa đạt 31.380,0 ha đạt 105,7% kế hoạch, tăng 5,2% so với cùng kỳ (+1.558,1 ha). Diện tích gieo trồng ngô đạt 6.912,1 ha, giảm 61% so với cùng kỳ (-10.822,7 ha).

Diện tích gieo trồng cây chất bột có củ đạt 3.580,6 ha, giảm 32,2% so với cùng kỳ (-1.700,8 ha) trong đó: Diện tích gieo trồng khoai lang đạt 1.549,7 ha (-1.431,4 ha). Diện tích gieo trồng sắn đạt 1.987,2 ha, giảm 12,1% (-274,4 ha).

Diện tích gieo trồng mía đạt 80,7 ha, tương đương với cùng kỳ.

Diện tích gieo trồng cây có hạt chứa dầu đạt 4.650,7 ha, bằng 51,8% so với cùng kỳ (-4.321,6 ha), trong đó: Diện tích gieo trồng lạc đạt 3.210,0 ha, giảm 19,4% so với cùng kỳ (-823,9 ha). Diện tích gieo trồng đậu tương đạt 1.440,2 ha, giảm 70,8% so với cùng kỳ (-3.498,2 ha).

Diện tích gieo trồng cây rau, đậu, hao, cây cảnh đạt 3.188,3 ha, giảm 38,8% so với cùng kỳ (-2.025,3 ha), trong đó: Diện tích gieo trồng rau các loại đạt giảm 39,7% so với cùng kỳ (-1.871,3 ha). Đậu các loại đạt 260,7 ha, giảm 40,8% (-179,5 ha). Hoa các loại đạt 45,2 ha. Cây cảnh các loại đạt 38,0 ha.

Diện tích gieo trồng cây hàng năm khác đạt 806,6 ha bằng 92,0% cùng kỳ năm trước.

Nhìn chung diện tích gieo trồng của tất cả các loại cây hàng năm đều giảm (trừ cây lúa) nên tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông xuân 2009 bị giảm mạnh.

2. Năng suất, sản lượng:

* Năng suất:

Vụ Đông xuân 2009 năm nay gặp một số khó khăn như: Trong thời kỳ lúa trỗ ở hầu hết các địa phương trong tỉnh đều chịu ảnh hưởng của thời tiết âm u làm cho sinh trưởng của cây lúa chậm lại, đồng thời rầy nâu, rầy lưng trắng phát sinh gây hại tuy không lớn nhưng diện rộng ở tất cả các huyện, song với sự nỗ lực của bà con nông dân, đặc biệt là UBND tỉnh đã có công điện số 02/CĐ-CT ngày 27/04/2009 về việc tập trung chỉ đạo quyết liệt phòng trừ rầy nâu, rầy lưng trắng hại lúa xuân 2009 và Chỉ thị số 26/CT-UBND tỉnh ngày 29/04/2009 về việc tăng cường công tác phòng trừ sâu bệnh cuối vụ xuân 2009 nên đã hạn chế thiệt hại và đạt kết quả tốt. Vu Đông xuân 2009 là vụ năng xuất lúa đạt cao nhất trong các năm gần đây, nguyên nhân là do thời tiết thuận lợi, bà con nông dân tích cực sản xuất, thay đổi mùa vụ, cơ cấu giống lúa, đặc biệt là UBND tỉnh và các huyện, thị đã tích cực chỉ đạo thay đổi cơ cấu giống, hỗ trợ giá giống cho các giống lúa lai có năng suất cao hơn. Diện tích lúa lai 5.561 ha, chiếm tỷ trọng 17,7%, gấp 4,6 lần cùng kỳ năm trước.

Năng suất lúa chung toàn tỉnh 56,15 tạ/ha, đạt 99,7% kế hoạch và tăng 1,4% so với cùng kỳ (+0,77 tạ/ha).

Kết quả điều tra tại các hộ mẫu năng suất theo giống lúa như sau: Khang dân 1.165 hộ, năng suất đạt 54,30 tạ/ha. Bội tạp sơn thanh 60 hộ, năng suất đạt 51,92 tạ/ha. Q5 với 123 hộ năng suất đạt 60,66 tạ/ha. Vũ di 14 hộ, năng suất đạt 52,92 tạ/ha. Nếp 230 hộ, năng suất đạt 48,23 tạ/ha. SH 14 có 6 hộ, năng suất đạt 53,48 tạ/ha. BC 15 có 12 hộ, năng suất đạt 75,27 tạ/ha. Q ưư 17 hộ, năng suất đạt 65,04 tạ/ha. HT1 có 107 hộ, năng suất đạt 57,97 tạ/ha. TBR có 55 hộ, năng suất đạt 66,02. tạ/ha. Tám thơm 8 hộ, năng suất đạt 55,95 tạ/ha. X20,21, Xi 23 có 117 hộ, năng suất đạt 47,82 tạ/ha. TH3-3 có 91 hộ, năng suất đạt 50,26 tạ/ha. NX 30 có 76 hộ, năng suất đạt 46,97 tạ/ha. DT 10 có 57 hộ, năng suất đạt 51,87 tạ/ha. Syn 6 có 160 hộ, năng suất đạt 60,22 tạ/ha. Nghi hương 2308 có 42 hộ, năng suất lúa đạt 70,29 tạ/ha. Đại dương 4 hộ, năng suất đạt 65,47 tạ/ha. Hiện nay cơ cấu giống lúa trong toàn tỉnh chủ yếu vẫn là Khang dân, Q5. Vụ Đông xuân 2009 đã có sự thay đổi mạnh mẽ về cơ cấu giống lúa với nhiều giống lúa mới được gieo trồng mang lại năng suất cao như: Nghi hương 2308, Syn 6, TBR… tuy chiếm tỷ trọng chưa cao nhưng đã mang lại thay đổi về năng suất cho cây lúa.

Năng suất Ngô đạt 32,26 tạ/ha, giảm 18,7% so với cùng kỳ (-7,4 tạ/ha).

Năng suất Khoai lang đạt 57,58 tạ/ha, giảm 35,6 % (-31,9 tạ/ha).

Năng suất Đậu tương đạt 14,12 tạ/ha, giảm 14,9% so với cùng kỳ (-2,5 tạ/ha). Lạc đạt 18,21 tạ/ha, tương đương cùng kỳ.

Năng suất Rau các loại đạt 162,22 tạ/ha, giảm 8,3% so với cùng kỳ (-14,7 ta/ha).

Nhìn chung năng suất các loại cây hàng năm khác vụ Đông xuân 2009 đều giảm (trừ cây lúa), nguyên nhân là do vụ Đông 2008-2009 năng suất cảu tất cả các loại cây hàng năm đều giảm mạnh.

* sản lượng:

Sản lượng lúa đạt 176.189,2 tấn đạt 105,3% kế hoạch và tăng 6,7% so với cùng kỳ (+ 11.024,0 tấn). Sản lượng lúa Đông xuân 2009 tăng so với cùng kỳ là do diện tích tăng đã làm sản lượng tăng nên 8.748,7 tấn, mặt khác năng suất tăng cũng làm tăng sản lượng nên 2.275,3 tấn.

Sản lượng các loại cây hàng năm khác vụ Đông xuân 2009 giảm mạnh, chủ yếu do diện tích và năng suất đều giảm. Cụ thể:

Sản lượng Ngô đạt 22.295,2 tấn, giảm 68,3% so với cùng kỳ (-48.095,2 tấn).

Sản lượng Khoai lang đạt 8.922,5 tấn, giảm 66,5% so với cùng kỳ (-17.741 tấn).

Sản lượng Lạc đạt 5.846,3 tấn, giảm 30,3% so với cùng kỳ (-1.493,3 tấn).

Sản lượng Đậu tương đạt 2.033,9 tấn, giảm 75,2% so với cùng kỳ (-6.158,0 tấn).

Sản lượng Rau các loại đạt 46.140,5 tấn, giảm 54,7% so với cùng kỳ

(-37.292,7 tấn).

Sản lượng Đậu, đỗ các loại đạt 215,8 tấn, giảm 20,6% so với cùng kỳ (56,0 tấn).

III. Nhận xét chung:

Vụ Đông xuân năm 2009 gặp khó khăn về thời tiết, đặc biệt là vụ Đông  xuân 2008-2009 có mưa lớn kéo dài đã làm nhiều diện tích bị ngập mất trắng và làm giảm mạnh năng suất, sản lượng của tất cả các loại cây rau màu. Riêng cây lúa tuy rầy nâu phát sinh gây hại song được sự chỉ đạo tích cực của các tỉnh và các địa phương đã phòng trừ kịp thời hạn chế thiệt hại, mặt khác tỷ lệ diện tích lúa lai đã được mở rộng, tăng nhiều so với cùng kỳ nên năng suất và sản lượng tăng, an ninh lương thực được đảm bảo.

Sản xuất nông nghiệp Vĩnh Phúc vẫn có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế và ổn định xã hội nên phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn vẫn nâng cao đời sống nông dân luôn được quan tâm, chỉ đạo tích cực của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh và cấc cấp, các ngành trong tỉnh. Vụ Đông xuân 2009 UBND tỉnh tiếp tục có những chính sách hỗ trợ như: Tiếp tục hỗ trợ 100% thuỷ lợi phí, hỗ trợ 60% giá bán giống lúa lai, hỗ trợ cho các vùng sản xuất hàng hoá, hỗ trợ thuốc và tăng cường chỉ đạo phòng trừ sâu bệnh (đặc biệt là công tác phòng trừ rầy)… Do vậy tuy sản xuất vụ Đông  xuân 2009 gặp nhiều khó khăn nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn giữ được ổn định, bà con nông dân khắc phục khó khăn, tích cực sản xuất, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ và giống cây trồng nhằm mang lại hiệu quả kinh tế và thu nhập cao hơn ./

 

Xem chi tiết

 

Nơi nhận:

- Vụ NLTS-TCTK (B/cáo);

- Tỉnh uỷ, UB tỉnh (B/cáo);

- Các đơn vị liên quan;

- Lưu: LĐ, TH, NN.

CỤC TRƯỞNG

(Đã ký)

 

HOÀNG ĐỨC THẢO

Ngày đăng: 19/07/2016 Tác giả: Tiến Thịnh - Số lần được xem: 967

Báo cáo - Thống kê

Nâng cao nhận thức của người dân về sử dụng nước sạch trên địa bàn huyện Lập Thạch Hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá Trắm cỏ thâm canh trong ao Công tác thu gom, xử lý bao gói thuốc BVTV sau sử dụng trên địa bàn tỉnh năm 2021 Hướng dẫn thu gom, vận chuyển và xử lý bao gói thuốc BVTV sau sử dụng Nâng cao nhận thức của người dân về sử dụng nước sạch trên địa bàn huyện Yên Lạc
Xem tất cả »

ĐƠN VỊ THUỘC CƠ SỞ


Liên kết website